|
H Home
page
Tại
Hội Nghị thường niên HĐGMVN 2006,
Đức
Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám mục Mỹ Tho, Chủ tịch UBGLĐT,
đă
phổ biến Bản dịch sách TOÁT YẾU GIÁO LƯ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
do
UBGLĐT thực hiện,
để
các giáo phận góp ư hoàn chỉnh Bản dịch.
NGUỒN VUI hân hạnh giới thiệu Bản dịch này,
và
có thể làm trung gian chuyển các e-mail góp ư của độc giả
tới
các vị có trách nhiệm liên hệ.
NGUỒN VUI
TOÁT YẾU GIÁO LƯ
CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
TỰ
SẮC
ĐỂ CHẤP THUẬN VÀ CÔNG BỐ
BẢN “TOÁT YẾU GIÁO LƯ”
CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
Kính gởi CHƯ HUYNH đáng kính,
Quư HỒNG Y, THƯỢNG PHỤ, TỔNG GIÁM MỤC, GIÁM MỤC
LINH MỤC, PHÓ TẾ VÀ MỌI THÀNH PHẦN DÂN CHÚA
Cách đây hai mươi năm, sách GIÁO LƯ
CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO đă bắt đầu được soạn thảo, theo yêu cầu Khoá họp bất
thường của Thượng Hội đồng Giám mục nhân dịp kỷ niệm hai mươi năm ngày bế mạc
Công đồng Vaticanô II.
Tôi vô cùng cảm tạ Thiên Chúa, v́ Ngài đă ban
cho Hội thánh sách Giáo lư này; sách này đă được công bố vào năm 1992 do
vị tiền nhiệm kính yêu của Tôi, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Giá trị lớn lao và vẻ đẹp của quà tặng này đă
được hàng Giám mục xác nhận qua việc các ngài đón nhận một cách tích cực và rộng
răi. Sách Giáo lư ấy nhắm trao vào tay các vị Giám mục như bản qui chiếu chắc
chắn và đích thực để giảng dạy giáo lư công giáo và đặc biệt để soạn thảo các
sách giáo lư địa phương. Sách Giáo lư cũng được mọi thành phần Dân Chúa đón nhận
cách thuận lợi đáng kinh ngạc. Sách này cho đến nay đă được dịch ra hơn năm mươi
thứ tiếng.
Giờ đây, với niềm vui lớn lao, Tôi chấp thuận và
công bố bản Toát yếu Giáo lư này.
Vào tháng 10 năm 2002, các tham dự viên của Hội
nghị Quốc tế về Giáo lư đă nói lên một yêu cầu phổ biến trong Hội thánh là ước
mong có được bản Toát yếu sách giáo lư. Vị Tiền nhiệm kính yêu của Tôi đă
đón nhận ước muốn này và vào tháng 02 năm 2003 đă quyết định bắt đầu thực hiện.
Ngài trao việc soạn thảo cho một Uỷ ban Hồng y, do chính Tôi làm chủ tịch, với
sự cộng tác của nhiều chuyên viên. Trong quá tŕnh làm việc, một dự thảo bản
Toát yếu này được chuyển đến các Hồng y và những vị Chủ tịch các Hội đồng
Giám mục. Bản dự thảo này được một số rất đông đón nhận và đánh giá cao.
Toát yếu
mà hôm nay Tôi giới thiệu cho Hội thánh phổ quát là một tổng hợp trung thành và
chắc chắn sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo. Bản toát yếu này chứa
đựng cách ngắn gọn mọi yếu tố căn bản và nền tảng của đức tin Hội thánh, tạo
thành một thứ thủ bản “cầm tay – Vademecum” như vị Tiền nhiệm của Tôi ước
muốn, cho phép mọi người, dù tin hay không, có thể có được một cái nh́n toàn
diện về đức tin công giáo.
Bản Toát yếu này phản ánh cách trung
thành sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo ngay trong cấu trúc, nội dung
lẫn ngôn ngữ; hy vọng nhờ sự hỗ trợ và động viên của bản Toát yếu này,
sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo được biết đến cách rộng răi hơn và
được đào sâu nhiều hơn.
Với sự tin tưởng, Tôi trao
bản Toát yếu này trước tiên cho toàn Hội thánh và đặc biệt cho từng người
Kitô hữu, để vào thiên niên kỷ thứ ba này, mỗi người nhờ vào bản Toát yếu,
có được một sức bật mới trong cố gắng Phúc Âm hoá và giáo dục đức tin. Đây phải
là đặc điểm của tất cả các cộng đoàn trong Hội thánh và của tất cả những ai tin
vào Đức Kitô, bất luận tuổi tác hay thuộc quốc gia nào.
Nhờ tính chất ngắn gọn, trong sáng và đầy đủ,
bản Toát yếu này cũng nhắm đến mọi người, đang sống trong một thế giới
phân tán và có quá nhiều sứ điệp, khao khát biết được con Đường Sự sống, Chân lư,
đă được Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh của Con ḿnh.
Khi đọc bản Toát yếu có thẩm quyền này,
nhờ sự cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, Mẹ Đức Kitô và là Mẹ Hội thánh,
mỗi người có thể nhận ra và đón nhận ngày một hơn vẻ đẹp, sự thống nhất và tính
hiện thực bất tận của món quà vô giá mà Thiên Chúa đă ban tặng cho nhân loại :
đó là Con Duy Nhất của Ngài, Đức Giêsu Kitô, Đấng là “Đường, là Sự thật và là Sự
sống” (Ga 14,6).
Ban hành tại Rôma, gần Đền thờ thánh Phêrô,
ngày 28 tháng 06 năm 2005,
Áp Đại lễ kính hai thánh Tông đồ Phêrô và
Phaolô,
Năm thứ nhất triều đại Giáo hoàng của Tôi
BENEDICTUS PP XVI

Bức tranh Đức Kitô PANTOCRATOR (Chủ tể muôn loài),
có một vẻ đẹp mỹ thuật đặc biệt, gợi nhớ lời Thánh vịnh : “Giữa thế nhân, ngài
vô song tuyệt mỹ, ân sủng được tuôn đổ trên môi ngài”(Tv 44 [45], 3). Áp dụng
lời ca ngợi này vào Chúa Giêsu, thánh Gioan Kim Khẩu viết : “Đức Kitô ở vào tuổi
tuyệt vời, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần; nơi Người chiếu tỏa một nét đẹp
trên cả hai b́nh diện, nét đẹp của tâm hồn và nét đẹp của thể xác” (Giáo phụ Hy
Lạp [PG] 52,479).
Bằng ngôn ngữ tượng h́nh, bức tranh này là một
tổng hợp các Công đồng chung đầu tiên, không những tŕnh bày vẻ huy hoàng của
nhân tính, nhưng cả vinh quang của thần tính Chúa Giêsu.
Đức Kitô mặc một áo dài đỏ, bên ngoài là một áo
choàng xanh đậm. Hai màu sắc này nhắc nhớ đến hai bản tính của Người, trong khi
các phản chiếu ánh vàng gợi lên ngôi vị thần linh của Ngôi Lời. Từ vai phải có
một dây các phép nạm vàng sa xuống, biểu trưng chức tư tế vĩnh cửu của Người.
Gương mặt Người, uy nghi và trang trọng, được bao bọc bằng bộ tóc dày trên nền
một hào quang ở giữa có h́nh thánh giá. Trên h́nh thánh giá có ba mẫu tự O?N (Người
là Đấng Hiện Hữu) lấy lại mạc khải danh Thiên Chúa trong sách Xuất Hành 14,3.
Trên cao, ở viền bức tranh có hai cặp mẫu tự “IC – XC” (“Jesus” – “Christus”)
tạo thành tựa đề cho bức ảnh.
Bàn tay mặt, ngón cái
và ngón đeo nhẫn gấp lại gần như đụng nhau (để
chỉ hai bản tính của Đức Kitô trong sự hợp nhất của ngôi vị), được tŕnh bày với
cử chỉ đặc trưng của việc ban phúc lành. Ngược lại, bàn tay trái, siết chặt
quyển Tin Mừng; quyển sách này có ba ổ khóa, nhiều viên ngọc trai và đá quí.
Quyển Tin Mừng, biểu trưng và tổng hợp Lời Chúa, cũng có một ư nghĩa Phụng vụ v́
trong mỗi Thánh lễ chúng ta đều đọc một đoạn và khi truyền phép chúng ta đọc lại
lời của chính Chúa Giêsu.
Bức tranh này
liên kết một cách thành công những yếu tố tự nhiên và biểu trưng, mời gọi chúng
ta suy niệm và bước theo Chúa Giêsu. Ngày hôm nay, thông qua Hội thánh là Hôn
thê và là Thân thể nhiệm mầu của Người, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục chúc lành cho
nhân loại và soi sáng nhân loại bằng Tin Mừng của Người, đó thực sự là cuốn sách
của chân lư, của hạnh phúc và của ơn cứu độ con người.
Vào tháng 08 năm 386, khi đang ở trong vườn,
thánh Augustinô nghe một tiếng nói với ngài : “Hăy cầm lấy và đọc, hăy cầm lấy
và đọc” (Tự thuật 8,12,29). Bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo là
một tổng hợp Tin Mừng của Chúa Giêsu được huấn giáo của Hội thánh dạy dỗ; đó là
một lời mời để mở quyển sách chân lư và đọc, và có thể là “ nuốt đi” như lời
ngôn sứ Êdêkien (x. Ed 3,1-4).
THÉOPHANE DE CRÈTE (1546),
Bức tranh về Đức Kitô, Tu viện Stavronikita, núi Athos.
DẪN NHẬP
1. Ngày 11 tháng 10 năm 1992, Đức Giáo hoàng
Gioan-Phaolô II trao cho các tín hữu trên toàn thế giới sách Giáo lư của Hội
thánh Công giáo, như một “bản văn qui chiếu” [1] cho Giáo lư được canh tân
từ nguồn gốc sống động của đức tin. Ba mươi năm sau ngày khai mạc Công đồng
Vaticanô II (1962-1965) một ước mơ đă trở thành hiện thực, ước mơ này đă được
Thượng Hội đồng bất thường của các Giám mục vào năm 1985 đạo đạt lên, đó là ước
muốn có một sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo tŕnh bày tất cả đức tin cũng
như luân lư.
Năm năm sau, ngày 15 tháng 08 năm 1997, khi
công bố Ấn bản mẫu của sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, Đức
Giáo hoàng xác nhận mục đích cơ bản của tác phẩm này : “Đây là một tŕnh bày đầy
đủ và trọn vẹn giáo lư công giáo, cho phép mỗi người nhận ra điều Hội thánh
tuyên xưng, cử hành, sống và cầu nguyện trong cuộc sống hằng ngày của ḿnh” [2].
2. Để làm nổi bật giá trị giáo lư và để đáp lại
một yêu cầu do Đại hội Quốc tế về Giáo lư đạo đạt vào năm 2002, Đức Giáo hoàng
Gioan Phaolô II đă thành lập một Ủy ban đặc biệt vào năm 2003, đứng đầu là Đức
Hồng y Joseph Ratzinger, Bộ trưởng Bộ Giáo lư Đức tin, ủy thác cho ngài công tác
viết một bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, trong
đó các nội dung đức tin được tŕnh bày một cách tổng hợp hơn. Sau hai năm làm
việc, Ủy ban viết được bản Dự thảo bản toát yếu; bản này được trao cho
các Hồng y và Chủ tịch các Hội đồng Giám mục để xin ư kiến. Một số đông các phúc
đáp đều đánh giá cao bản dự thảo này. V́ thế Ủy ban bắt đầu cho duyệt lại bản dự
thảo dựa theo các đề nghị chỉnh sửa để chuẩn bị cho bản văn cuối cùng.
3. Bản Toát yếu này có ba đặc điểm chính
như sau : lệ thuộc chặt chẽ vào sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo;
h́nh thức hỏi thưa; và việc sử dụng các h́nh ảnh nghệ thuật vào trong
Giáo lư.
Trước hết, bản Toát yếu này không phải là
một tác phẩm hoàn toàn độc lập và cũng không phải để thay thế cho sách Giáo
lư của Hội thánh Công giáo; ngược lại luôn qui hướng về sách Giáo lư,
bằng cách ghi những số liên hệ và theo sát cấu trúc, cách tŕnh bày và nội dung
của sách Giáo lư. Ngoài ra bản Toát yếu muốn khơi dậy mối quan tâm
và ḷng nhiệt thành đối với sách Giáo lư, sách vẫn luôn là bản văn nền
tảng cho giáo lư của Hội thánh ngày nay bởi cách tŕnh bày khôn ngoan và chiều
sâu thiêng liêng của nó.
Như sách Giáo lư, bản Toát yếu
cũng chia ra làm bốn phần tương ứng với những lề luật căn bản cho đời sống trong
Đức Kitô.
Phần đầu tiên – có tựa đề “Tuyên xưng đức tin” –
gồm một tổng hợp cơ bản về Lex credendi, có nghĩa là Luật đức tin được
Hội thánh Công giáo tuyên xưng, một tổng hợp rút ra từ Kinh Tin Kính của các
thánh Tông đồ, được bổ túc bằng bản Kinh Tin Kính của hai Công đồng Nicea và
Constantinopoli, mà việc công bố liên tục trong những buổi họp mặt giúp người
Kitô hữu luôn nhớ các chân lư nền tảng của đức tin.
Phần thứ hai – có tựa đề “Cử hành mầu nhiệm Kitô
giáo” – tŕnh bày các yếu tố căn bản của Lex celebrandi. Việc rao giảng
Tin Mừng t́m được câu trả lời thích ứng trong đời sống Bí tích. Trong đời sống
này, các tín hữu có kinh nghiệm và làm chứng trong mỗi giây phút cuộc đời ḿnh
hiệu năng cứu độ của mầu nhiệm Vượt qua, trong đó Đức Kitô hoàn tất công tŕnh
cứu độ chúng ta.
Phần thứ ba – có tựa đề “Đời sống trong Đức
Kitô” – nhắc nhớ lại Lex vivendi, có nghĩa là sự dấn thân mà các tín hữu
biểu lộ trong thái độ và sự chọn lựa đạo đức của ḿnh, sự trung thành với đức
tin đă được tuyên xưng và được cử hành. Chúa Giêsu mời gọi các tín hữu thực hiện
những hành động phù hợp với phẩm giá là con của Chúa Cha trong t́nh yêu của Chúa
Thánh Thần.
Phần thứ tư – có tựa đề “Kinh nguyện Kitô giáo”
- tŕnh bày một tổng hợp về Lex Orandi, có nghĩa là về đời sống cầu
nguyện. Theo gương Chúa Giêsu, mẫu mực tuyệt vời cho kẻ cầu nguyện, người Kitô
hữu được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa trong kinh nguyện, mà một trong những
cách diễn tả ưu thế nhất là Kinh Lạy Cha, đó là kinh do chính Chúa Giêsu dạy
chúng ta.
4. Đặc điểm thứ hai của bản toát yếu này là h́nh
thức đối thoại, lấy lại h́nh thức cổ xưa của sách giáo lư, gồm các câu hỏi và
câu thưa. Đây là cách đối thoại giữa thầy và tṛ qua một loạt câu hỏi gây chú ư
cho người đọc, mời gọi họ khám phá những phương diện luôn luôn mới của chân lư
đức tin của ḿnh. H́nh thức hỏi thưa thu ngắn bản văn, đúc kết vào điểm chính
yếu, tiện cho việc học thuộc ḷng nội dung.
5. Đặc điểm thứ ba là có nhiều h́nh ảnh làm nổi
bật cách phân chia bản toát yếu. Các tranh ảnh này được rút từ gia sản phong phú
của nghệ thuật tranh ảnh thánh của Kitô giáo. Từ truyền thống cả ngh́n năm của
các Công đồng, chúng ta học biết rằng tranh ảnh cũng là một cách rao giảng Tin
Mừng. Các nghệ nhân của mọi thời đại tŕnh bày cho các tín hữu chiêm ngắm và
kinh ngạc trước những sự kiện nổi bật của mầu nhiệm cứu độ với sự huy hoàng của
màu sắc và vẻ đẹp tuyệt vời. Đó là một dấu chỉ cho thấy tranh ảnh thánh, trong
văn hóa h́nh ảnh ngày nay, có thể diễn tả nhiều hơn là ngôn từ, v́ trong sự sinh
động của nó, sứ điệp Tin Mừng sẽ có nhiều hiệu quả hơn khi được diễn tả bằng
ngôn từ và được tiếp tục truyền đạt.
6. Bốn mươi năm sau ngày kết thúc Công đồng
Vaticanô II và trong năm Thánh Thể, bản Toát yếu có thể xem như là một
công cụ mới để thỏa măn khát vọng t́m kiếm chân lư của các tín hữu thuộc mọi lứa
tuổi và trong mọi hoàn cảnh, cũng như ước muốn của những ai, dù chưa phải là tín
hữu, đang khao khát chân lư và công bằng. Việc công bố bản Toát yếu này
được diễn ra trong ngày Đại lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, cột trụ của
Hội thánh toàn cầu và là những người rao giảng gương mẫu Tin Mừng cho thế giới
trong thời đại của các ngài. Các vị Tông đồ này biết rơ điều các ngài rao giảng
và chứng minh cho chân lư Đức Kitô đến hy sinh mạng sống. Chúng ta hăy bắt chước
các ngài trong sự dấn thân truyền giáo và cầu xin Chúa cho Hội thánh luôn dơi
theo giáo huấn của các Tông đồ, nhờ các ngài mà Hội thánh đă lănh nhận trước
tiên lời tuyên xưng vinh phúc của đức tin.
Lễ Lá, ngày 20 tháng 03 năm 2005
Hồng Y Joseph Ratzinger
Chủ tịch Ủy Ban đặc biệt
Chú thích
[1] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn
Fidei depositum, 11.10.1992, DC 91 (1993) trang 1.
[2] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư
Laetamur magnopere, 1508, 1997, DC 94 (1997) trang 851.

Kiệt tác hoành tráng diễn tả việc các Đạo sĩ đến
thờ lạy Chúa (x. Mt 2,1-12) tŕnh bày mạc khải của Chúa Giêsu cho muôn dân. Mầu
nhiệm Nhập thể là một hồng ân không những dành cho niềm tin của Đức Maria, của
thánh Giuse, của các người phụ nữ, của những mục đồng, những con người đơn sơ
của dân Israel, nhưng cũng cho niềm tin của những kẻ xa lạ đến từ phương Đông,
để thờ lạy Đấng Mêsia mới sinh và dâng lên Người các lễ vật : “Họ vào nhà, thấy
Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp ḿnh bái lạy Người, rồi mở bảo tráp,
lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2,11).
Các Đạo sĩ là những người đầu tiên của những dân
tộc được mời gọi đến đức tin; họ đến với Chúa Giêsu không phải với bàn tay
không, nhưng với sự phong phú của quê hương và văn hóa của họ.
Tin Mừng của Chúa Giêsu là lời cứu độ cho toàn
thể nhân loại. Thánh Giáo hoàng Lêô Cả đă nói : “Mọi dân tộc, được ba vị Đạo sĩ
này đại diện, thờ lạy Đấng Sáng Tạo vũ tru,ï và Thiên Chúa không những được rao
giảng trong vùng Giuđêa, nhưng trên toàn thế giới, để Danh Ngài thật vĩ đại trên
toàn Israel (x. Tv 75,2)” (Bài giảng thứ 3 ngày lễ Hiển linh).
Phần thứ nhất của bản Toát yếu tŕnh bày việc
gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người và là lời đáp trả đức tin mà Hội thánh,
nhân danh toàn thể nhân loại, dâng lên đáp lại hồng ân Nhập thể cứu độ của Con
Thiên Chúa và cuộc Mạc khải thần linh của Người.
Gentile da Fabriano (1423) , Các Đạo sĩ thờ lạy, Galleria degli Uffizi,
Florenz.
PHẦN I
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
ĐOẠN THỨ NHẤT
“TÔI TIN” – “CHÚNG TÔI TIN”

Bức ảnh
nhỏ này tŕnh bày chu kỳ trọn vẹn của sáu ngày sáng tạo cho đến lúc nguyên tổ
của nhân loại bị cám dỗ (x. St 1-3).
Công tŕnh Ngài, lạy Chúa, quả thiên h́nh vạn
trạng !
Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan,
những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất.
Này đại dương bát ngát mênh mông,
nơi muôn vàn sinh vật to lẫn nhỏ vẫy vùng,
nơi tàu bè cỡi sóng và thủy quái tung tăng,
là vật Chúa tạo thành để làm tṛ tiêu khiển.
Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa
đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn.
Ngài ban xuống, chúng lượm về,
Ngài mở tay, chúng thỏa thuê ơn phúc…
Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi !
(Tv 104,
24-28.35)
Trong đêm
Vọng Phục sinh, Hội thánh ca ngợi Chúa v́ công tŕnh vĩ đại hơn nữa của ơn cứu
độ nhân loại và vũ trụ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
Chúa luôn hoạt động với sự khôn ngoan tuyệt vời,
Chúa ban cho loài người mà Chúa đă cứu chuộc
để hiểu hy tế của Đức Kitô, Chiên lễ Vượt qua
của chúng con,
là một công tŕnh c̣n vĩ đại hơn cả công tŕnh
sáng tạo vào lúc khởi đầu vũ trụ.
Thánh Kinh của Souvigny, Những mẫu ảnh nhỏ về những Ngày Tạo dựng,
Moulins, Thư viện thành phố.
1.
Ư định của Thiên Chúa dành cho con người là ǵ ?
1-25
Thiên Chúa tự bản thể là
Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ư định nhân hậu, Ngài đă tự ư tạo dựng
con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài. Khi thời gian
đến hồi viên măn, Thiên Chúa Cha đă cử Con Ngài đến làm Đấng Cứu Thế chuộc tội
cho nhân loại đă sa ngă trong tội lỗi, để kêu gọi họ vào trong Hội thánh Ngài,
và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đón nhận họ làm dưỡng tử, và được thừa
hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài.
CHƯƠNG MỘT
CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG” ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA
“Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và đáng ca tụng. . . .
Chúa đă dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn của chúng con luôn xao xuyến cho
đến khi được yên nghỉ trong Chúa”
(Thánh Augustinô).
2.
Tại sao con người khát khao Thiên Chúa ?
27-30
44-45
Khi tạo dựng con người
theo h́nh ảnh ḿnh, chính Thiên Chúa đă khắc ghi vào trong tâm hồn họ sự khát
khao nh́n thấy Ngài. Cả khi họ không nhận ra sự khát khao này, Thiên Chúa vẫn
không ngừng lôi kéo họ đến với ḿnh, v́ chỉ nơi Thiên Chúa, họ mới sống và t́m
được chân lư và hạnh phúc viên măn mà họ luôn t́m kiếm. V́ vậy, tự bản chất và
do ơn gọi của ḿnh, con người là một hữu thể tôn giáo, có khả năng bước vào sự
hiệp thông với Thiên Chúa. Dây liên hệ mật thiết và sống động này với Thiên Chúa
đem lại cho con người phẩm giá căn bản của ḿnh.
3.
Với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa
không ?
31-36
46-47
Khởi từ công tŕnh tạo
dựng, nghĩa là từ thế giới vật chất và con người, con người có thể chỉ dùng lư
trí cũng nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của vũ
trụ, là sự thiện hảo tuyệt vời, là chân lư và vẻ đẹp vô cùng vô tận.
4.
Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con người có đủ khả năng để nhận
biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không ?
37-38
Chỉ với ánh sáng của lư
trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn
nữa, tự ḿnh, con người không thể nào bước vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên
Chúa. V́ thế, con người cần được Mạc khải của Thiên Chúa soi dẫn, không những về
những ǵ vượt quá sự hiểu biết nhân loại, mà cả về những chân lư tôn giáo và
luân lư, tự chúng vốn không vượt quá khả năng của lư trí, để mọi người trong
t́nh trạng hiện thời của nhân loại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn
và không sai lầm.
5.
Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa thế nào ?
39-43
48-49
Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa cho
tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con người và của những thụ
tạo khác, đó là một phản ánh, dù rất hạn hẹp, về sự hoàn hảo vô tận của Thiên
Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh luyện ngôn ngữ của chúng ta v́
nó bất toàn và bị lệ thuộc vào h́nh ảnh, phải ư thức rằng chúng ta không bao giờ
có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô tận của Thiên Chúa.
CHƯƠNG HAI
THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP
CON NGƯỜI
Mạc khải của Thiên
Chúa
6.
Thiên Chúa mạc khải cho con người điều ǵ ?
50-53
68-69
Với ḷng nhân hậu và sự
khôn ngoan, Thiên Chúa tự mạc khải chính ḿnh cho con người. Qua các hành động
và lời nói, Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ư định của ḷng nhân hậu,
mà Ngài đă hoạch định tự muôn đời trong Đức Kitô. Ư định này nhằm đón nhận tất
cả mọi người trở thành nghĩa tử trong Người Con duy nhất của Ngài nhờ ân sủng
của Chúa Thánh Thần và cho họ tham dự vào sự sống của Thiên Chúa.
7.
Những giai đoạn đầu tiên của Mạc khải là ǵ ?
54-58
70-71
Từ nguyên thủy, Thiên
Chúa tỏ ḿnh ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông Ađam và bà Evà, và mời gọi họ
bước vào sự hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngă, Ngài đă không chấm
dứt việc Mạc khải, nhưng đă hứa ban ơn cứu độ cho tất cả miêu duệ của họ. Sau
cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đă kư kết với ông Noe một Giao ước giữa Ngài với tất
cả các sinh linh.
8.
Những
giai đoạn tiếp theo của Mạc khải của Thiên Chúa là ǵ ?
59-64
72
Thiên Chúa chọn ông
Abraham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành “cha của vô số
dân tộc” (St 17,5) và hứa qua ông sẽ chúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất”
(St 12,3). Con cháu của ông Abraham là những kẻ thừa hưởng các lời Thiên Chúa đă
hứa với tổ phụ họ. Thiên Chúa đă lập Israel làm dân Ngài tuyển chọn, cứu thoát
họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, kư kết với họ Giao ước Sinai và, qua ông Môsê, Ngài
ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đă loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện
cho dân Chúa cũng là ơn cứu độ dành cho tất cả mọi dân tộc, trong một Giao ước
mới và vĩnh cửu. Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, đă được sinh ra từ dân Israel, và từ
ḍng dơi Vua Đavít.
9.
Giai đoạn Mạc khải trọn vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa là ǵ ?
65-66
73
Giai đoạn Mạc khải trọn
vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa được thực hiện nơi Ngôi Lời nhập thể, là Đức
Giêsu Kitô, Đấng là trung gian và là viên măn của Mạc khải. Chúa Giêsu, Con duy
nhất của Thiên Chúa, đă làm người, là Lời hoàn hảo và dứt khoát của Chúa Cha.
Mạc khải đă được hoàn tất cách trọn vẹn qua việc Thiên Chúa Cha sai Con Ngài và
ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội thánh phải dần dần trải qua bao thế
kỷ mới nhận biết ư nghĩa đầy đủ của Mạc khải.
“Từ khi Thiên Chúa ban cho
chúng ta Con Ngài, Đấng là Lời duy nhất và dứt khoát của Ngài, Thiên Chúa đă nói
với chúng ta một lần duy nhất trong Lời này và Ngài không c̣n ǵ để nói thêm
nữa” (Thánh Gioan Thánh
Giá).
10.
Các mạc khải tư có gía trị ǵ ?
67
Mặc dầu các mạc khải tư
không thuộc về kho tàng đức tin, nhưng chúng có thể giúp chúng ta sống đức tin,
với điều kiện chúng có một liên hệ chặt chẽ với Đức Kitô. Huấn quyền Hội thánh,
có thẩm quyền để phân định các mạc khải tư đó, không thể chấp nhận những mạc
khải tư nào vượt qua hay muốn sửa đổi Mạc khải dứt khoát là chính Đức Kitô.
Lưu truyền Mạc
khải của Thiên Chúa
11.
Tại sao phải lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách
nào ?
74
Thiên Chúa “muốn cho mọi
người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1 Tm 2,4), nghĩa là nhận biết Đức Giêsu
Kitô. V́ thế, phải rao giảng Đức Kitô cho mọi người, như chính lời Người dạy :
“Hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Điều này đă được thực
hiện bởi Truyền thống các Tông đồ, gọi tắt là Truyền thống tông đồ.
12.
Truyền thống tông đồ là ǵ ?
75-79
83
96, 98
Truyền thống tông đồ
là việc chuyển đạt sứ điệp của Đức Kitô, đă được thực hiện ngay từ lúc khởi
đầu Kitô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, các cơ chế, phụng tự, và các sách
được linh ứng. Các Tông đồ đă chuyển đạt mọi điều các ngài đă lănh nhận từ Đức
Kitô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế nhiệm các ngài, là các
giám mục, và qua họ, cho mọi thế hệ đến tận thế.
13.
Truyền
thống tông đồ được thực hiện như thế nào ?
76
Tông truyền được thực hiện
bằng hai cách : qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách đơn sơ là
Thánh truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng ơn cứu độ được
ghi lại thành chữ viết.
14.
Tương quan giữa Thánh truyền và Thánh Kinh như thế nào ?
80-82
97
Thánh truyền và Thánh Kinh
liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu nhiệm Đức
Kitô được hiện diện và sung măn trong Hội thánh và cả hai cùng xuất phát từ một
cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức tin duy nhất, nơi Hội
thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những chân lư được mạc khải.
15.
Kho tàng đức tin đă được ủy thác cho ai ?
84, 91
94, 99
Từ thời các thánh Tông đồ,
kho tàng đức tin đă được ủy thác cho toàn thể Hội thánh. Nhờ Chúa Thánh Thần hỗ
trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của đức tin, toàn thể
dân Chúa đón nhận Mạc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi ngày một sâu xa hơn, và
cố gắng sống Mạc khải đó.
16.
Ai có thẩm quyền để giải nghĩa kho tàng đức tin ?
85-90
100
Chỉ có Huấn quyền sinh
động của Hội thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phêrô làm Giám mục Rôma và các
Giám mục hiệp thông với ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng đức tin.
Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng về chân lư, có
trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức tŕnh bày các chân
lư chứa đựng trong Mạc khải của Thiên Chúa; thẩm quyền này cũng áp dụng trên các
chân lư có liên hệ thiết yếu với Mạc khải.
17.
Đâu là mối tương quan giữa Thánh truyền, Thánh Kinh và Huấn quyền ?
95
Thánh Kinh, Thánh Truyền
và Huấn quyền liên hệ chặt chẽ với nhau, đến độ thực thể này không hiện hữu nếu
không có hai thực thể kia. Dưới tác động của cùng một Chúa Thánh Thần, cả ba góp
phần cách hữu hiệu vào ơn cứu độ loài người, mỗi thực thể theo cách thức riêng
của ḿnh.
Thánh Kinh
18.
Tại sao Thánh Kinh lại có thể dạy chân lư ?
105-108
135-136
Bởi v́ chính Thiên Chúa là
tác giả của Thánh Kinh. Thánh Kinh là quyển sách được linh ứng và dạy dỗ cách
không sai lạc những chân lư cần thiết cho ơn cứu độ chúng ta. Thật vậy, Chúa
Thánh Thần linh ứng cho các tác giả phàm nhân để họ viết ra những điều Thiên
Chúa muốn dạy dỗ chúng ta. Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo không phải là một “tôn
giáo của sách vở”, nhưng là của Lời Thiên Chúa, “không là một ngôn từ được viết
ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và sống động” (thánh Bênađô
Clairvaux).
19.
Chúng ta phải đọc Thánh Kinh như thế nào ?
109-119
137
Thánh Kinh phải được đọc
và giải thích dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và phải theo sự hướng dẫn
của Huấn quyền Hội thánh, theo ba tiêu chuẩn : (1) phải chú ư đến nội dung và sự
duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh; (2) phải đọc Thánh Kinh trong Thánh truyền sống
động của Hội thánh; (3) phải chú ư đến tính tương hợp của đức tin, nghĩa là đến
sự liên hệ hài ḥa giữa các chân lư đức tin với nhau.
20.
Quy điển (Canon) của các Sách Thánh là ǵ ?
120, 138
Quy điển
các Sách Thánh là danh
mục đầy đủ về các Sách Thánh, mà Tông truyền đă phân định rơ ràng cho Hội thánh.
Quy điển này gồm có bốn mươi sáu tác phẩm Cựu Ước và hai mươi bảy tác
phẩm Tân Ước.
21.
Đâu là tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các người Kitô hữu ?
121-123
Người Kitô hữu tôn kính
Cựu Ước như là Lời đích thực của Thiên Chúa. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước
được Thiên Chúa linh ứng nên có một giá trị trường tồn. Cựu Ước là bằng chứng
cho thấy nghệ thuật giáo dục bằng t́nh yêu cứu độ của Thiên Chúa. Và nhất là,
các tác phẩm Cựu Ước được viết ra để chuẩn bị cho việc Đức Kitô, Đấng Cứu Độ
muôn loài, ngự đến.
22.
Đâu là tầm quan trọng của Tân Ước đối với các người Kitô hữu ?
124-127
139
Trung tâm của Tân Ước là
Đức Giêsu Kitô. Tân Ước dạy chúng ta chân lư dứt khoát được Thiên Chúa mạc khải.
Trong Tân Ước, bốn quyển Phúc Âm – Matthêu, Marcô, Luca và Gioan – là những
chứng từ chính yếu về đời sống và về lời giảng dạy của Chúa Giêsu; bốn quyển
sách này tạo thành trung tâm của tất cả Sách Thánh và có một vị trí độc nhất
trong Hội thánh.
23.
Đâu là sự thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước ?
128-130
140
Thánh Kinh chỉ là một, v́
chỉ có một Lời Chúa duy nhất, một chương tŕnh cứu độ duy nhất của Thiên Chúa và
một linh ứng duy nhất của Thiên Chúa cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Cựu Ước chuẩn
bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước : cả hai soi sáng cho nhau.
24.
Thánh Kinh giữ vai tṛ nào trong đời sống Hội thánh ?
131-133
141-142
Thánh Kinh đem lại sự hỗ
trợ và sức mạnh cho đời sống Hội thánh. Đối với con cái Hội thánh, Thánh Kinh là
sự củng cố đức tin, là lương thực và nguồn mạch của đời sống tinh thần. Thánh
Kinh là linh hồn của các môn thần học và giảng thuyết mục vụ. Thánh Vịnh gọi
Thánh Kinh là “đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118
[119],105). V́ thế, Hội thánh khuyến khích chúng ta thường xuyên đọc Thánh Kinh,
v́ “không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô” (thánh Giêrônimô).
CHƯƠNG BA
LỜI ĐÁP TRẢ CỦA
CON NGƯỜI VỚI THIÊN CHÚA
Tôi Tin
25.
Con người đáp trả như thế nào với Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải ?
142-143
Được ân sủng của Thiên
Chúa nâng đỡ, con người đáp lời Thiên Chúa bằng việc vâng phục đức tin, bao gồm
việc tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lư của Ngài, chân lư
được Thiên Chúa bảo đảm v́ chính Ngài là Chân Lư.
26.
Trong Thánh Kinh, ai là những nhân chứng chính yếu cho việc vâng phục đức
tin ?
144-149
Có rất nhiều chứng nhân,
nhưng đặc biệt là hai vị :
-
Ông
Abraham, dù bị
thử thách, “vẫn vững tin vào Thiên Chúa” (Rm 4,3) và luôn vâng phục tiếng gọi
của Ngài; v́ thế ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11.18);
-
Đức Trinh
Nữ Maria, trong
suốt cuộc đời đă thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin : “Fiat mihi
secundum verbum tuum – xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).
27.
Tin vào Thiên Chúa có ư nghĩa cụ thể ǵ cho con người ?
150-152
176-178
Tin vào Thiên Chúa có
nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và
chấp nhận tất cả những chân lư do Ngài mạc khải v́ Ngài chính là Chân lư. Điều
này có nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị : Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần.
28.
Đức tin có những đặc điểm ǵ ?
153-165
179-180
183-184
Đức tin là một hồng ân
nhưng không của Thiên Chúa, được trao ban cho tất cả những ai cầu xin với
ḷng khiêm hạ; đó là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được cứu độ. Hành vi đức
tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành động của lư trí
con người, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự do gắn bó với chân lư của Thiên
Chúa. Ngoài ra, đức tin c̣n có đặc tính chắc chắn, v́ được đặt nền tảng
trên Lời Chúa; đức tin có đặc tính năng động “nhờ Đức ái” (Gl 5,6); đức
tin luôn tăng triển, đặc biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Trong
hiện tại, đức tin cho chúng ta nếm trước niềm vui trên trời.
29.
Tại sao không có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học ?
159
Dù đức tin vượt lên trên
lư trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, v́ cả hai đều
có cùng một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban ánh sáng lư trí và đức
tin cho con người.
“Tôi tin để hiểu và tôi
hiểu để tin”
(Thánh Augustinô).
Chúng Tôi Tin
30.
Tại sao đức tin là một hành vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi
mang tính giáo hội ?
166-169
181
Đức tin là một hành vi cá
nhân, v́ đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Đấng tự mạc
khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính giáo hội, tính chất này
được bày tỏ trong lời tuyên xưng đức tin : “Chúng tôi tin.” Thật vậy, chính Hội
thánh tin : qua đó, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, Hội thánh đi bước trước,
sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. V́ thế, Hội thánh là Mẹ và là Thầy.
“Không ai có thể có Thiên
Chúa là Cha, mà lại không có Hội thánh là Mẹ.”
(Thánh Cyrianô)
31.
Tại sao những công thức đức tin lại quan trọng ?
170-171
Những công thức đức tin là
quan trọng v́ chúng giúp ta diễn tả, đồng hóa, cử hành và cùng chia sẻ với những
người khác các chân lư đức tin, khi sử dụng một ngôn ngữ chung.
32.
Phải hiểu như thế nào về đức tin duy nhất của Hội thánh ?
172-175
182
Dù được h́nh thành do
nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục, Hội thánh đồng thanh
tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lănh nhận từ một Chúa duy nhất và được
chuyển đạt qua một Truyền thống tông đồ duy nhất. Hội thánh tuyên xưng một Thiên
Chúa duy nhất –Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – và dạy một con đường cứu
độ duy nhất. V́ thế, chúng ta, cùng một ḷng một ư, tin những ǵ chứa đựng trong
Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra và được Hội thánh xác định là do
Thiên Chúa mạc khải.
ĐOẠN THỨ HAI
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
KITÔ GIÁO

Bức tranh ghép đá cổ xưa,
trong đại thánh đường Rôma cổ mang tên thánh Clêmentê, tôn vinh vinh quang thập
giá, mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo. Chúng ta có thể thấy hoa rực rỡ
quanh gốc cây ô-rô, từ gốc cây này mọc lên rất nhiều cành lá uốn lượn theo mọi
hướng, cùng với hoa và quả của chúng. Sức sống của cây này xuất phát từ thánh
giá Chúa Giêsu, mà Hy tế của Người làm nên cuộc tái sáng tạo con người và vũ
trụ. Chúa Giêsu là Ađam mới, Đấng nhờ mầu nhiệm khổ nạn, cái chết và sự Phục
sinh, làm cho nhân loại được nở hoa, khi Người giao ḥa nhân loại này lại với
Chúa Cha.
Chung quanh Đức Kitô đau
khổ có mười hai con bồ câu trắng, chỉ mười hai vị Tông đồ. Dưới chân thánh giá,
có Đức Maria và người môn đệ được thương mến : “Khi thấy thân mẫu và môn đệ ḿnh
thương mến đứng bên cạnh, Chúa Giêsu nói với thân mẫu rằng : ‘Thưa Bà, đây là
con của bà.’ Rồi Người nói với môn đệ : ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người
môn đệ rước bà về nhà ḿnh” (Ga 29,26-27).
Trên cao, xuất hiện bàn
tay của Chúa Cha, trao ṿng vinh quang cho Con ḿnh, Đấng chiến thắng sự chết
nhờ mầu nhiệm Vượt qua của Người.
Ở dưới gốc cây, một con
nai con chiến đấu với con rắn của sự dữ. Cây này tượng trưng cho cây cứu độ, sản
sinh ra một ḍng suối từ đó nước tuôn tràn, đem lại sức sống cho bốn con suối
nhỏ biểu trưng cho bốn sách Phúc Âm, mà các tín hữu kín múc để uống, như những
con nai uống suối nước hằng sống. Ở đây, Hội thánh được tŕnh bày như một vườn
thiên quốc được Chúa Giêsu làm cho sinh động, Người chính thực là cây sự sống.
Đại thánh đường Thánh
Clêmentê, Rôma, Tranh ghép đá ở tiền đ́nh, thế kỷ XII, (chi tiết :
Thập giá, cây sự sống). Được phục chế với phép của các cha ḍng Đaminh
Ai-len
KINH TIN KÍNH
Kinh Tin Kính các
Thánh Tông đồ
Tôi tin kính Đức Chúa Trời
là Cha phép tắc vô cùng
dựng nên trời đất.
Tôi tin kính Đức Chúa
Giêsu Kitô
là Con Một Đức Chúa Cha
cùng là Chúa chúng tôi.
Bởi phép Đức Chúa Thánh
Thần
mà Người xuống thai,
sinh bởi bà Maria đồng
trinh,
chịu nạn đời quan Phongxiô
Philatô,
chịu đóng đinh trên cây
thánh giá,
chết và táng xác,
xuống ngục tổ tông,
ngày thứ ba bởi trong kẻ
chết mà sống lại,
lên trời ngự bên hữu Đức
Chúa Cha phép tắc vô cùng,
ngày sau bởi trời lại
xuống
phán xét kẻ sống và kẻ
chết.
Tôi tin kính Đức Chúa
Thánh Thần.
Tôi tin có Hội thánh hằng
có ở khắp thế này,
các Thánh thông công.
Tôi tin phép tha tội.
Tôi tin xác loài người
ngày sau sống lại.
Tôi tin hằng sống vậy.
Amen.
Kinh Tin Kính
Nicea-Constantinopoli
Tôi tin kính một Thiên
Chúa
là Cha toàn năng,
Đấng tạo thành trời đất,
muôn vật hữu h́nh và vô
h́nh.
Tôi tin kính một Chúa
Giêsu Kitô,
Con Một Thiên Chúa,
sinh bởi Đức Chúa Cha từ
trước muôn đời.
Người là Thiên Chúa bởi
Thiên Chúa,
Ánh sáng bởi Ánh sáng,
Thiên Chúa thật bởi Thiên
Chúa thật,
được sinh ra mà không phải
được tạo thành,
đồng bản thể với Đức Chúa
Cha :
nhờ Người mà muôn vật được
tạo thành.
V́ loài người chúng ta và
để cứu độ chúng ta,
Người đă từ trời xuống
thế.
Bởi phép Đức Chúa Thánh
Thần,
Người đă nhập thể trong
ḷng Trinh Nữ Maria
và đă làm người.
Người chịu đóng đinh vào
thập giá v́ chúng ta,
thời quan Phongxiô
Philatô;
Người chịu khổ h́nh và mai
táng,
ngày thứ ba Người sống lại
như lời Thánh Kinh.
Người lên trời, ngự bên
hữu Đức Chúa Cha,
và Người sẽ lại đến trong
vinh quang
để phán xét kẻ sống và kẻ
chết,
Nước Người sẽ không bao
giờ cùng.
Tôi tin kính Đức Chúa
Thánh Thần
là Thiên Chúa và là Đấng
ban sự sống,
Người bởi Đức Chúa Cha
và Đức Chúa Con mà ra.
Người được phụng thờ và
tôn vinh
cùng với Đức Chúa Cha và
Đức Chúa Con :
Người đă dùng các tiên tri
mà phán dạy.
Tôi tin Hội thánh duy
nhất, thánh thiện,
công giáo và tông truyền.
Tôi tuyên xưng có một Phép
Rửa để tha tội.
Tôi trông đợi kẻ chết sống
lại
và sự sống đời sau. Amen.
CHƯƠNG MỘT
TÔI TIN KÍNH ĐỨC
CHÚA TRỜI LÀ CHA
Những bản tuyên
xưng đức tin
33.
Những bản tuyên xưng đức tin là ǵ ?
185-188
192, 197
Đó là những công thức ngắn
gọn, c̣n được gọi là “những bản tuyên xưng đức tin” hay “Kinh Tin Kính,” qua đó
Hội thánh, ngay từ thuở ban đầu, đă diễn tả đức tin của ḿnh một cách tổng hợp
và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hoá và chung cho mọi tín hữu.
34.
Những bản tuyên xưng đức tin cổ nhất là những bản nào ?
189-191
Những bản tuyên xưng đức
tin cổ xưa nhất là những Kinh Tin Kính khi cử hành Bí tích Rửa tội. V́ Bí
tích Rửa tội được ban “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19), nên các
chân lư đức tin mà các người lănh nhận Bí tích Rửa tội tuyên xưng, được phân
chia theo ba Ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.
35.
Những bản tuyên xưng đức tin quan trọng nhất là những bản nào ?
193-195
Những bản quan trọng nhất
là :
-
Kinh Tin Kính của các Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa
nhất dùng khi cử hành Bí tích Rửa tội của Giáo hội Rôma;
-
Kinh Tin Kính Công Đồng Nicea-Constantinopoli, là kết quả của hai Công
Đồng Chung đầu tiên, tại Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381).
Hai bản này vẫn c̣n là hai
bản chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Đông phương và Tây phương.
“TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA
TRỜI LÀ CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG,
DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT”
36.
Tại sao bản tuyên xưng đức tin được khởi đầu bằng “Tôi tin kính Đức Chúa
Trời” ?
198-199
Bởi v́ xác quyết “Tôi tin
kính Đức ChúaTrời” là điều quan trọng nhất. Xác quyết này là nguồn gốc của mọi
chân lư khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của những ai tin
Thiên Chúa.
37.
Tại sao chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất ?
200-202
228
Bởi v́ Thiên Chúa đă mạc
khải cho dân Israel biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài nói : “Nghe
đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất” (Đnl 6,4).
“Ta là Thiên Chúa, chẳng c̣n chúa nào khác” (Is 45,22). Chính Chúa Giêsu cũng
xác nhận điều này : Thiên Chúa là “Đức Chúa duy nhất” (Mc 12,29). Tuyên xưng
Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đức Chúa, không hề đưa đến sự
chia cắt nào nơi Thiên Chúa duy nhất.
38.
Thiên Chúa tự mạc khải với danh thánh nào ?
203-205
230-231
Thiên Chúa đă mạc khải
chính ḿnh cho Môsê là Thiên Chúa hằng sống, “Thiên Chúa của Ábraham, Thiên Chúa
của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6). Ngài cũng mạc khải Danh Thánh huyền
nhiệm của Ngài cho ông : “Ta là Đấng Hằng Hữu” (YHWH). Ngay từ thời Cựu Ước,
Danh Thánh của Thiên Chúa không được phép đọc lên, nên phải thay thế bằng thuật
ngữ Đức Chúa. Như vậy trong Tân Ước, Chúa Giêsu được người ta gọi là
Đức Chúa, tức là được nh́n nhận là Thiên Chúa thật.
39.
Có phải chỉ một ḿnh Thiên Chúa “hiện hữu” không ?
212-213
Trong khi tất cả mọi thụ
tạo đều lănh nhận từ Thiên Chúa tất cả những ǵ chúng có và hiện hữu, chỉ Thiên
Chúa mới tự ḿnh hiện hữu một cách trọn vẹn và tuyệt hảo. Ngài là “Đấng hằng
hữu,” không có khởi đầu và cũng chẳng có cùng tận. Chúa Giêsu cũng mạc khải rằng
Người mang Danh Thánh : “Ta là Đấng hằng hữu” (Ga 8,28).
40.
Tại sao việc Mạc khải Danh Thánh Thiên Chúa là điều quan trọng ?
206-213
Qua việc Mạc khải Danh
Thánh, Thiên Chúa cho thấy sự phong phú chất chứa trong mầu nhiệm khôn lường của
Ngài. Chỉ ḿnh Ngài hiện hữu từ muôn thuở và cho đến muôn đời. Ngài siêu việt
trên vũ trụ và lịch sử. Chính Ngài là Đấng tạo thành trời đất. Ngài là Thiên
Chúa trung tín, luôn gần gũi với dân để cứu độ họ. Ngài là Đấng Thánh tuyệt hảo,
“giàu ḷng nhân hậu” (Ep 2,4), luôn sẵn sàng tha thứ. Ngài là Hữu Thể thiêng
liêng, siêu việt, toàn năng, vĩnh cửu, ngôi vị, trọn hảo. Ngài là chân lư và
t́nh yêu.
“Thiên Chúa là Hữu Thể
tuyệt hảo vô tận, là Ba Ngôi cực thánh.”
(thánh Turibius thành
Montenegro)
41.
Phải hiểu “Thiên Chúa là chân lư” như thế nào ?
214-217
231
Thiên Chúa là chính Chân
lư; và do đó, Ngài không tự dối gạt ḿnh cũng không dối gạt ai. Ngài là “Ánh
sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5). Con vĩnh cửu của
Thiên Chúa, là sự Khôn Ngoan nhập thể, đă được sai đi vào thế gian “để làm chứng
cho sự thật” (Ga 18,37).
42.
Thiên Chúa mạc khải Ngài là T́nh Yêu như thế nào ?
218-221
Thiên Chúa tự mạc khải cho
dân Israel rằng Ngài là Đấng có một t́nh yêu mạnh mẽ hơn t́nh yêu của cha mẹ đối
với con cái hoặc của vợ chồng đối với nhau. Tự bản chất, Thiên Chúa “là T́nh
Yêu” (1 Ga 4, 8.16), Ngài tự hiến ban ḿnh cách trọn vẹn và nhưng không, Ngài
“yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, […] để nhờ Con Ngài, mà thế gian được cứu
độ” (Ga 3,16-17). Khi sai phái Con Ngài và Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa mạc khải
chính Ngài là sự trao đổi t́nh yêu vĩnh cửu.
43.
Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm những ǵ ?
222-227
229
Niềm tin vào Thiên Chúa
duy nhất bao hàm việc nhận biết sự vĩ đại và quyền năng của Ngài, sống trong sự
cảm tạ, luôn tin tưởng vào Ngài, cả khi gặp nghịch cảnh, nhận biết sự hợp nhất
và phẩm giá đích thực của mọi người, đă được sáng tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa,
và sử dụng cách đúng đắn những ǵ Thiên Chúa đă dựng nên.
44.
Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là ǵ ?
232-237
Mầu nhiệm trung tâm của
đức tin và đời sống Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh. Các
người Kitô hữu được Rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
45.
Chỉ dùng lư trí, con người có thể nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi
hay không ?
237
Thiên Chúa đă để lại những
dấu vết về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công tŕnh tạo dựng và trong Cựu Ước,
nhưng đời sống nội tại của Ba Ngôi chí thánh vẫn là một mầu nhiệm mà lư trí
thuần túy của con người không thể nào đạt đến được, và ngay cả đức tin của
Israel cũng không thể biết mầu nhiệm đó, trước thời Con Thiên Chúa nhập thể và
Chúa Thánh Thần được gởi đến. Mầu nhiệm này đă được Đức Giêsu Kitô mạc khải và
là nguồn gốc của tất cả các mầu nhiệm khác.
46.
Chúa Giêsu đă mạc khải cho chúng ta điều ǵ về mầu nhiệm Chúa Cha ?
240-242
Đức Giêsu Kitô mạc khải
cho chúng ta Thiên Chúa là “Cha”, không những v́ Ngài là Đấng sáng tạo vũ trụ và
con người, nhưng trên hết, từ đời đời Ngài đă sinh ra Chúa Con tự ḷng ḿnh,
Đấng là Ngôi Lời, là “phản ánh vẻ huy hoàng, là h́nh ảnh trung thực của bản thể
Thiên Chúa” (Dt 1,3).
47.
Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giêsu đă mạc khải cho chúng ta, là ai ?
243-248
Ngài là Ngôi thứ ba trong
Ba Ngôi cực thánh. Ngài là Thiên Chúa, hợp nhất và đồng hàng với Chúa Cha và
Chúa Con. Ngài “xuất phát từ Chúa Cha” (Ga 15,26), Đấng là nguyên lư không có
khởi đầu, là nguồn gốc trọn vẹn cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Thánh
Thần cũng xuất phát từ Chúa Con (Filioque), v́ Chúa Cha đă trao ban Ngài
cho Chúa Con như Ân ban vĩnh cửu. Được Chúa Cha và Chúa Con nhập thể sai phái,
Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội thánh đến sự nhận biết “Chân lư trọn vẹn” (Ga
16,13).
48.
Hội thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào ?
249-256
266
Hội thánh diễn tả đức tin
vào Thiên Chúa Ba Ngôi khi tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mà Ngài có Ba Ngôi
: Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi vị thần linh chỉ là một Thiên Chúa duy nhất,
v́ mỗi Ngôi vị đều có trọn vẹn bản thể duy nhất và không thể phân chia của Thiên
Chúa. Ba Ngôi thực sự phân biệt giữa nhau qua các liên hệ tương quan với nhau.
Chúa Cha sinh Chúa Con; Chúa Con được Chúa Cha sinh ra; Chúa Thánh Thần xuất
phát từ Chúa Cha và Chúa Con.
49.
Các Ngôi vị Thiên Chúa hoạt động như thế nào ?
257-260
267
Ba Ngôi vị thần linh không
thể tách rời nhau trong cùng một bản thể duy nhất, th́ cũng không thể tách rời
trong các hoạt động của ḿnh. Ba Ngôi có cùng một hoạt động duy nhất . Tuy
nhiên, trong hoạt động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị hiện diện theo cách
đặc thù của ḿnh trong Ba Ngôi.
“Lạy Thiên Chúa của con,
Lạy Ba Ngôi con tôn thờ . . . xin ban b́nh an cho linh hồn con, xin biến linh
hồn con thành thiên đàng của Chúa, nơi trú ngụ dễ mến và nơi yên nghỉ của Chúa.
Không bao giờ con muốn bỏ mặc Chúa một ḿnh, nhưng con sẽ trọn vẹn ở đó, tỉnh
thức trong đức tin, hoàn toàn thờ lạy, và hoàn toàn phó thác vào hoạt động sáng
tạo của Chúa.” (Chân phước
Elisabeth Chúa Ba Ngôi)
50.
Thiên Chúa toàn năng nghĩa là ǵ ?
268-278
Thiên Chúa tự mạc khải
chính Ngài là “Đấng mạnh mẽ, oai hùng” (Tv 23 [24],8), Đấng “không có ǵ là
không thể làm được” (Lc 1,37). Sự toàn năng của Ngài là phổ quát, và mầu nhiệm.
Sự toàn năng này được biểu lộ trong việc sáng tạo vũ trụ từ hư vô và sáng tạo
con người v́ t́nh yêu, nhưng nhất là trong mầu nhiệm Nhập thể và trong sự Phục
sinh Con của Ngài, trong hồng ân đón nhận chúng ta làm nghĩa tử và thứ tha tội
lỗi. V́ thế, Hội thánh dâng lời cầu nguyện lên “Thiên Chúa toàn năng và vĩnh
cửu” (“Omnipotens sempiterne Deus…”).
51.
Tại sao việc khẳng định rằng : “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa dựng nên trời và
đất” (St 1,1) lại rất quan trọng ?
279-289
315
Bởi v́ việc tạo dựng là
nền tảng cho tất cả dự định cứu độ của Thiên Chúa. Tạo dựng là việc biểu lộ t́nh
yêu toàn năng và khôn ngoan của Thiên Chúa; đó là bước đầu tiên hướng đến Giao
ước của Thiên Chúa duy nhất với dân Ngài; đó là khởi điểm của lịch sử cứu độ,
lịch sử này đạt tới chóp đỉnh nơi Chúa Giêsu; đó là câu trả lời đầu tiên cho các
vấn nạn căn bản của con người về nguồn gốc và cùng đích của ḿnh.
52.
Ai đă tạo dựng vũ trụ ?
290-292
316
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần là nguyên lư duy nhất và không thể phân chia của việc tạo dựng, mặc
dù công tŕnh tạo dựng vũ trụ được đặc biệt gán cho Chúa Cha.
53.
Vũ trụ được dựng nên để làm ǵ ?
293-294
319
Vũ trụ được dựng nên để
tôn vinh Thiên Chúa, Đấng đă muốn biểu lộ và thông ban ḷng nhân hậu, chân lư và
vẻ đẹp của Ngài. Mục đích tối hậu của việc tạo dựng là để Thiên Chúa, trong Đức
Kitô, “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28), v́ vinh quang của Ngài và
hạnh phúc của chúng ta.
“Vinh quang của Thiên
Chúa là con người sống và sự sống của con người là được nh́n thấy Thiên Chúa”
(Thánh Irênê).
54.
Thiên Chúa đă sáng tạo vũ trụ như thế nào ?
295-301
317-320
Thiên Chúa đă sáng tạo vũ
trụ cách tự do, bằng sự khôn ngoan và t́nh yêu. Vũ trụ không phải là sản phẩm
của một luật tất yếu nào đó, của một định mệnh mù quáng hoặc bởi ngẫu nhiên.
Thiên Chúa đă sáng tạo “từ hư vô” (ex nihilo; 2 Mcb 7,28), một thế
giới được sắp xếp trật tự và tốt lành, nhưng Ngài vô cùng cao cả siêu việt trên
mọi loài. Ngài ǵn giữ vạn vật trong sự hiện hữu, nâng đỡ và ban cho nó khả năng
hoạt động và hướng dẫn nó đến sự trọn hảo nhờ Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
55.
Sự Quan pḥng của Thiên Chúa là ǵ ?
302-306
321
Sự Quan pḥng của Thiên
Chúa là những sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa hướng dẫn các thụ tạo của ḿnh đến chỗ
hoàn hảo mà Ngài đă định cho chúng. Thiên Chúa là tác giả tối cao của kế hoạch
Ngài; nhưng để thực hiện kế hoạch đó, Ngài cũng sử dụng sự cộng tác của các thụ
tạo. Đồng thời, Ngài ban cho chúng phẩm giá là tự hoạt động và trở thành nguyên
nhân cho nhau.
56.
Con người cộng tác vào sự Quan pḥng của Thiên Chúa như thế nào ?
307-308
323
Tuy tôn trọng tự do của
con người, nhưng Thiên Chúa ban cơ hội và đ̣i hỏi con người cộng tác với Ngài
qua hành động, kinh nguyện và cả sự đau khổ của họ, khi gợi lên trong họ “ước
muốn cũng như hành động theo ḷng nhân hậu của Ngài” (Pl 2,13).
57. Nếu Thiên Chúa toàn
năng và quan pḥng, tại sao lại có sự dữ ?
309-310
324, 400
Chỉ có toàn bộ đức
tin Kitô giáo mới có thể trả lời cho câu hỏi vừa bi thảm vừa mầu nhiệm này.
Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ, dù trực tiếp hay gián tiếp.
Ngài làm sáng tỏ mầu nhiệm sự dữ nhờ Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, Đấng đă chết và
đă sống lại để chiến thắng sự dữ luân lư to lớn là tội lỗi của con người, nguồn
gốc của tất cả những sự dữ khác.
58. Tại sao Thiên Chúa lại
cho phép sự dữ xuất hiện ?
311-314
324
Đức tin giúp chúng ta xác
tín rằng Thiên Chúa đă không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát
sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó. Điều này Thiên Chúa đă thực hiện cách
tuyệt vời trong cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Thật vậy, từ sự dữ luân lư
lớn nhất, là cái chết của Con Ngài, Ngài đă rút ra những điều thiện hảo vĩ đại
nhất, đó là việc tôn vinh Đức Kitô và là ơn cứu độ chúng ta.
Trời và Đất
59. Thiên Chúa đă tạo dựng
những ǵ ?
325-327
Thánh Kinh nói : “Lúc khởi
đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Trong bản tuyên xưng đức tin, Hội
thánh công bố Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo muôn vật hữu h́nh và vô h́nh, mọi loài
thiêng liêng và vật chất, nghĩa là các thiên thần và thế giới hữu h́nh, và đặc
biệt nhất là con người.
60. Các thiên thần là ai ?
328-333
350-351
Các thiên thần là những
thụ tạo thiêng liêng, không có thân xác, vô h́nh và bất tử; đó là những hữu thể
có ngôi vị, có lư trí và ư chí. Họ không ngừng chiêm ngắm Thiên Chúa diện đối
diện và tôn vinh Thiên Chúa; các ngài phục vụ Thiên Chúa và là những sứ giả của
Ngài để thực hiện sứ vụ cứu độ loài người.
61.
Các thiên thần hiện diện trong đời sống của Hội thánh như thế nào ?
Hội thánh liên kết với các
thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa; Hội thánh kêu cầu sự trợ giúp của các ngài và
trong phụng vụ, Hội thánh kính nhớ một số vị trong các ngài.
“Bên cạnh mỗi tín hữu đều
có một thiên thần như Đấng bảo trợ và mục tử, hướng dẫn họ đến sự sống”
(Thánh Basiliô cả).
62.
Thánh Kinh dạy ǵ về việc tạo dựng thế giới hữu h́nh ?
337-344
Qua chuyện kể “sáu ngày”
tạo dựng, Thánh Kinh cho chúng ta biết giá trị của thế giới thụ tạo, và mục đích
của nó là để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ con người. Mọi vật hiện hữu là nhờ
Thiên Chúa, tất cả đều lănh nhận từ Thiên Chúa sự tốt lành và hoàn hảo, lề luật
và vị trí của ḿnh trong vũ trụ.
63.
Đâu là vị trí của con người trong công tŕnh tạo dựng ?
343-344
353
Con người là chóp đỉnh của
các thụ tạo hữu h́nh, v́ được dựng nên theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa.
64.
Các thụ tạo liên hệ với nhau như thế nào ?
342
354
Giữa các thụ tạo có mối
liên hệ với nhau và một phẩm trật theo ư Thiên Chúa. Đồng thời cũng có một sự
hợp nhất và liên đới giữa các thụ tạo, v́ tất cả đều có cùng một Đấng Sáng Tạo,
tất cả đều được Ngài yêu mến và được sắp xếp để tôn vinh Ngài. V́ thế, tôn trọng
những lề luật đă được khắc ghi trong công tŕnh tạo dựng và những mối tương quan
phát xuất từ bản tính của mọi vật, là một nguyên tắc khôn ngoan và là một nền
tảng của luân lư.
65.
Đâu là mối liên hệ giữa công tŕnh sáng tạo và công tŕnh cứu chuộc ?
345-349
Công tŕnh sáng tạo đạt
tới tột đỉnh trong một công tŕnh c̣n vĩ đại hơn nữa, là công tŕnh cứu chuộc.
Thật vậy, công tŕnh cứu chuộc là khởi điểm cho công tŕnh sáng tạo mới, trong
đó tất cả sẽ t́m được ư nghĩa trọn vẹn và sự viên măn của ḿnh.
Con người
66.
Phải hiểu “Con người được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa” theo nghĩa
nào ?
355-357
Con người được dựng nên
theo h́nh ảnh Thiên Chúa theo nghĩa họ có khả năng nhận biết và yêu mến một cách
tự do Đấng Sáng Tạo nên ḿnh. Trên mặt đất, chỉ có con người là thụ tạo đă được
Thiên Chúa dựng nên cho chính họ và mời gọi họ tham dự vào đời sống thần linh
của Ngài nhờ nhận biết và yêu thương. V́ được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa,
con người có phẩm giá của một ngôi vị; họ không phải là một sự vật, nhưng là một
con người có khả năng nhận thức về bản thân ḿnh, tự hiến ḿnh cách tự do và đi
vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân.
67.
Thiên Chúa dựng nên con người với mục đích ǵ ?
358-359
381
Thiên Chúa đă dựng nên
tất cả cho con người, nhưng con người được dựng nên để nhận biết, phục vụ và yêu
mến Thiên Chúa; hầu ở trần gian, họ dâng lên Thiên Chúa mọi thụ tạo mà tạ ơn
Ngài, nhờ đó họ sẽ được nâng lên trời sống với Thiên Chúa. Chỉ trong mầu nhiệm
của Ngôi Lời Nhập thể mà mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ. Con
người được tiền định để phản ánh h́nh ảnh của Con Thiên Chúa làm người, Đấng là
“h́nh ảnh trọn hảo của Thiên Chúa vô h́nh” (Cl 1,15).
68.
Tại sao loài người tạo thành một sự thống nhất ?
360-361
Tất cả mọi người tạo thành
sự thống nhất của ḍng giống loài người, v́ họ có cùng một nguồn gốc, được lănh
nhận từ nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, Thiên Chúa, “đă tạo thành toàn thể nhân loại từ
một người duy nhất” (Cv 17,26). Tất cả đều có một Đấng Cứu Độ duy nhất. Tất cả
đều được mời gọi dự phần vào hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên Chúa.
69.
Trong con người, linh hồn và thân xác tạo thành một sự thống nhất như thế
nào ?
362-365
382
Con người là một hữu thể
vừa thể xác, lại vừa tinh thần. Trong con người, tinh thần và vật chất tạo thành
một bản thể duy nhất. Sự thống nhất này rất sâu xa đến độ, nhờ nguyên lư tinh
thần là linh hồn mà thể xác, vốn là vật chất, trở thành một thân xác con người
sống động, và được dự phần vào phẩm giá “là h́nh ảnh của Thiên Chúa.”
70.
Ai ban linh hồn cho con người ?
366-368
382
Linh hồn thiêng liêng và
bất tử không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách trực tiếp. Linh
hồn ĺa khỏi thân xác lúc người ta chết, nhưng linh hồn không chết. Linh hồn sẽ
tái hợp với thân xác trong ngày sống lại sau hết.
71.
Thiên Chúa đă thiết lập mối liên hệ nào giữa người nam và người nữ?
369-373
383
Người nam và người nữ được
Thiên Chúa dựng nên với một phẩm giá ngang nhau là những nhân vị, và đồng thời
họ bổ túc cho nhau trong tư cách là nam và nữ. Thiên Chúa đă muốn tạo dựng họ
cho nhau, làm nên một sự hiệp thông các bản vị. Cả hai cùng được mời gọi
truyền lại sự sống con người trong hôn nhân, khi cả hai trở nên “một xương một
thịt” (St 2,24) và làm chủ trái đất như những “người quản lư” của Thiên Chúa.
72.
T́nh trạng nguyên thủy của con người theo kế hoạch của Thiên Chúa là ǵ ?
374-379
384
Khi sáng tạo người nam và
người nữ, Thiên Chúa đă cho họ tham dự cách đặc biệt vào đời sống thần linh của
Ngài, trong sự thánh thiện và công chính. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, con
người sẽ không phải đau khổ, cũng không phải chết. Ngoài ra, có một sự hài ḥa
tuyệt hảo nơi chính con người, giữa thụ tạo với Đấng Sáng tạo, giữa người nam
với người nữ, cũng như giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể thụ tạo.
Sự Sa Ngă
73.
Làm thế nào để hiểu được thực tại của tội lỗi ?
385-389
Tội lỗi hiện diện trong
lịch sử loài người. Một thực tại như thế chỉ được hiểu biết cách đầy đủ dưới ánh
sáng Mạc khải của Thiên Chúa, và nhất là dưới ánh sáng của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ
mọi người, Đấng tuôn đổ ân sủng thật sung măn bất cứ nơi nào tràn đầy tội
lỗi.
74.
Sự sa ngă của các thiên thần là ǵ ?
391-395
414
Với cách diễn tả này,
người ta muốn nói rằng Satan và các ma quỉ khác, được Thánh Kinh và Thánh truyền
nói đến, vốn là các thiên thần tốt lành do Thiên Chúa dựng nên, nhưng đă trở
thành ác xấu, bởi v́, qua việc chọn lựa tự do và dứt khoát, chúng từ chối Thiên
Chúa và Vương quyền của Ngài và như thế làm phát sinh ra hỏa ngục. Chúng cố gắng
lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn chống lại Thiên Chúa; nhưng trong Đức Kitô,
Thiên Chúa xác nhận chiến thắng chắc chắn của Ngài trên Ác thần.
75.
Tội đầu tiên của con người cốt tại điều ǵ ?
396-403
415-417
Con người, bị ma quỷ cám
dỗ, đă dập tắt trong trái tim ḿnh sự tin tưởng vào những liên hệ với Đấng Sáng
Tạo của ḿnh. Khi không tuân phục Thiên Chúa, con người muốn trở nên “như Thiên
Chúa,” không nh́n nhận Thiên Chúa và không c̣n căn cứ vào Thiên Chúa nữa (St
3,5). Như thế, Ađam và Evà lập tức đánh mất ân sủng của sự thánh thiện và sự
công chính nguyên thủy cho bản thân và tất cả con cháu họ.
76.
Tội tổ tông truyền là ǵ ?
404
419
Mọi người đều bị sinh ra
trong nguyên tội. Nguyên tội là t́nh trạng thiếu vắng ơn thánh sủng và sự công
chính nguyên thủy. Đó là một tội mà chúng ta “vướng mắc” chứ không phải là một
tội mà chúng ta vấp phạm ; đó là t́nh trạng lúc chào đời chứ không phải là một
hành vi cá nhân. Do sự thống nhất của toàn thể loài người, tội này được truyền
lại cho con cháu của Ađam trong bản tính loài người, “không phải do bắt chước,
nhưng là qua truyền sinh.” Việc truyền đạt này là một mầu nhiệm mà chúng ta
không thể hiểu được cách trọn vẹn.
77.
Những hậu quả khác do nguyên tội gây nên là ǵ ?
405-409
418
Sau khi tổ tông đă phạm
tội, bản tính con người không hoàn toàn bị hủy hoại, nhưng bị thương tật trong
các sức lực tự nhiên của ḿnh, chịu sự u mê, đau khổ và nằm dưới quyền lực sự
chết; bản tính con người bị nghiêng chiều về tội lỗi. Sự nghiêng chiều này được
gọi là dục vọng (concupiscentia).
78.
Thiên Chúa đă làm ǵ sau tội đầu tiên của con người ?
410-412
420
Sau tội đầu tiên, thế gian
đă bị tràn ngập tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă không bỏ rơi con người dưới quyền
lực sự chết. Trái lại, Ngài đă tiên báo cách mầu nhiệm – trong “Tiền Tin Mừng”
(x. St 3,15)– rằng sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sẽ được nâng dậy khỏi sự sa
ngă của họ. Đó là lời tiên báo đầu tiên về Đấng Mêsia cứu chuộc. V́ thế, chúng
ta đă gọi sự sa ngă là “tội hồng phúc” (felix culpa), v́ “nhờ có
ngươi, ta mới có được Đấng Cứu Chuộc cao cả dường này” (Phụng Vụ đêm Vọng Phục
sinh).
CHƯƠNG HAI
TÔI TIN KÍNH ĐỨC
CHÚA GIÊSU KITÔ,
CON MỘT THIÊN CHÚA
79.
Tin Mừng cho con người là ǵ ?
422-424
Tin Mừng là lời loan báo
về Đức Giêsu Kitô, “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Đấng đă chết và đă
sống lại. Vào thời vua Hêrôđê và Hoàng Đế Xêdarê Augustô, Thiên Chúa đă thực
hiện những lời Ngài đă hứa với Ábraham và ḍng dơi qua việc Ngài đă sai “Con
Ḿnh tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống
dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4,4-5).
80.
Tin Mừng này được loan truyền như thế nào ?
425-429
Ngay từ đầu, các môn đệ
tiên khởi đă khao khát loan báo Đức Giêsu Kitô, nhằm làm cho mọi người tin vào
Người. Ngày nay cũng thế, sự hiểu biết say mê Đức Kitô làm nẩy sinh nơi các tín
hữu niềm khao khát rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lư, nghĩa là giúp mọi người
nhận thấy tất cả kế hoạch của Thiên Chúa trong con người Chúa Giêsu và dẫn đưa
nhân loại đến hiệp thông với Người.
“TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA
GIÊSU KITÔ,
LÀ CON MỘT ĐỨC CHÚA CHA,
CÙNG LÀ CHÚA CHÚNG TÔI”
81.
Danh thánh “Giêsu” nghĩa là ǵ ?
430-435
452
Danh thánh Giêsu, được
thiên thần gọi ngay từ lúc Truyền tin, có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”. Danh
thánh này nói lên căn tính và sứ mạng của Chúa Giêsu, v́ “chính Người sẽ cứu dân
ḿnh khỏi tội” (Mt 1,21). Thánh Phêrô khẳng định rằng “dưới gầm trời này không
có danh nào khác đă được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được
cứu độ” (Cv 4,12).
82.
Tại sao Chúa Giêsu lại được gọi là “Đấng Kitô” ?
436-440
453
“Kitô” là tiếng Hy Lạp,
c̣n “Mêsia” là tiếng Hypri, có nghĩa là “được xức dầu”. Chúa Giêsu là Đấng Kitô
v́ Người được Thiên Chúa thánh hiến, được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần để đảm
nhận sứ mạng cứu chuộc của Người. Người là Đấng Mêsia mà dân Israel mong đợi,
được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Giêsu đă chấp nhận tước hiệu Mêsia,
nhưng đă xác định rơ ràng ư nghĩa tước hiệu này : “từ trời xuống” (Ga 3,13),
chịu đóng đinh và rồi sống lại, Người là Tôi Trung Đau Khổ, “hiến dâng mạng sống
làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Từ tước hiệu Kitô này, chúng ta
được mang danh hiệu là người Kitô hữu.
83.
Chúa Giêsu là “Con Một Thiên Chúa” theo ư nghĩa nào ?
441-445
454
Chúa Giêsu là “Con Một
Thiên Chúa” theo một ư nghĩa duy nhất và trọn hảo. Vào lúc Người chịu phép rửa
và trong cuộc Hiển Dung, tiếng của Chúa Cha cho thấy Chúa Giêsu là “Con yêu dấu”
của Ngài. Khi Chúa Giêsu tự giới thiệu ḿnh là Con, chỉ ḿnh Người “biết Chúa
Cha” (Mt 11,27), Người khẳng định mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của ḿnh
với Thiên Chúa là Cha của Người. “Người là Con duy nhất của Thiên Chúa” (1 Ga
4,9), là Ngôi Hai trong Ba Ngôi. Người là trung tâm của lời rao giảng của các
thánh Tông đồ : các Tông đồ đă thấy “vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa
Cha ban cho Người, là Con Một” (Ga 1,14).
84.
Tước hiệu “Đức Chúa” có ư nghĩa ǵ ?
446-451
455
Trong Thánh Kinh, thường
tước hiệu này để chỉ Thiên Chúa tối cao. Chúa Giêsu tự nhận cho ḿnh tước hiệu
này và mạc khải quyền tối thượng thần linh của Người qua quyền năng của Người
trên thiên nhiên, trên ma quỉ, trên tội lỗi và trên cái chết, và nhất là qua
cuộc phục sinh của Người. Những tuyên xưng đầu tiên của các người Kitô hữu công
bố quyền năng, danh dự và vinh quang dành cho Thiên Chúa Cha cũng thuộc về Chúa
Giêsu, Đấng mà Thiên Chúa “đă ban tặng danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu”
(Pl 2,9). Người là Đức Chúa của trần gian và của lịch sử, là Đấng duy nhất mà
mọi người, với sự tự do của ḿnh, phải hoàn toàn tùng phục.
“BỞI PHÉP ĐỨC CHÚA THÁNH
THẦN
MÀ NGƯỜI XUỐNG THAI SINH
BỞI BÀ MARIA ĐỒNG TRINH”
85.
Tại sao Con Thiên Chúa làm người ?
456-460
Con Thiên Chúa đă nhập thể
trong ḷng Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, v́ loài người chúng ta và để
cứu rỗi chúng ta, có nghĩa là để chúng ta, là những kẻ tội lỗi, được giao ḥa
với Thiên Chúa, để cho chúng ta biết được t́nh thương vô bờ bến của Ngài, để trở
nên mẫu gương cho chúng ta về sự thánh thiện và để làm cho chúng ta trở thành
những người “được thông phần bản tính Thiên Chúa ( 2 Pr 1,4).
86.
Hai tiếng “Nhập Thể” có nghĩa là ǵ ?
461-463
483
Hội thánh dùng từ “Nhập
Thể” để gọi mầu nhiệm của sự kết hợp tuyệt vời của thần tính và nhân tính trong
Ngôi vị thần linh duy nhất của Ngôi Lời. Để thực hiện công cuộc cứu rỗi chúng
ta, Con Thiên Chúa đă hóa thành “xác thể” (Ga 1,14), trở thành con người thật.
Đức tin vào mầu nhiệm Nhập thể là dấu chỉ phân biệt của niềm tin Kitô giáo.
87.
Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật như thế nào ?
464-467
469
Chúa Giêsu là Thiên Chúa
thật và là người thật, không thể tách rời nhau trong sự duy nhất của Ngôi vị
Thiên Chúa của Người. Chính Người là Con Thiên Chúa, là Đấng “được sinh ra mà
không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha”, Người thật sự trở
thành con người, trở thành anh em của chúng ta, tuy không ngừng là Thiên Chúa,
là Đức Chúa của chúng ta.
88.
Công đồng Chalcedonia (năm 451) dạy ǵ về vấn đề này ?
467
Công đồng Chalcedonia dạy
chúng ta phải tuyên xưng : “một Chúa Con duy nhất, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng
ta, Người hoàn hảo trong thần tính, Người cũng hoàn hảo trong nhân tính, thật sự
là Thiên Chúa và thật sự là người, có một linh hồn có lư trí và một thân xác,
đồng bản thể với Chúa Cha theo thần tính mà cũng đồng bản thể với chúng ta theo
nhân tính, “giống chúng ta về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,15), sinh
bởi Đức Chúa Cha theo thần tính từ trước muôn đời, và trong những ngày cuối cùng
này, v́ chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính từ
Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.”
89.
Hội thánh diễn tả mầu nhiệm Nhập thể như thế nào ?
464-469
479-481
Hội thánh diễn tả mầu
nhiệm này khi xác quyết rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật,
với hai bản tính là thần tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng kết hợp trong
Ngôi Lời. V́ thế, trong nhân tính của Chúa Giêsu, tất cả – các phép lạ, đau khổ
và cái chết – đều được qui về Ngôi vị thần linh của Người, Đấng hoạt động qua
nhân tính mà Ngôi vị này đảm nhận.
“Ôi Con duy nhất và là
Ngôi Lời của Thiên Chúa, dù bất tử, nhưng để cứu rỗi chúng con, Chúa đă nhập thể
nơi Đức Maria, Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và măi măi đồng trinh… Chúa là Một
trong Ba Ngôi chí thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin
cứu độ chúng con!” (Phụng
vụ Byzantin của thánh Gioan Kim Khẩu).
90.
Có phải Con Thiên Chúa làm người có một linh hồn với tri thức nhân loại
không ?
470-474
482
Con Thiên Chúa đă đón nhận
một thân xác được một linh hồn nhân loại có tri thức làm cho sinh động. Với tri
thức nhân loại, Chúa Giêsu đă học hỏi nhiều qua kinh nghiệm. Nhưng cũng với tư
cách là con người, Con Thiên Chúa có một sự hiểu biết thâm sâu và trực tiếp về
Thiên Chúa, Cha của Người. Người cũng nh́n thấu những tư tưởng thầm kín của con
người và hiểu biết đầy đủ các ư định muôn thuở mà Người đến để mạc khải.
91.
Hai ư muốn nơi Ngôi Lời nhập thể hợp tác với nhau như thế nào ?
475
482
Chúa Giêsu có một ư muốn
của Thiên Chúa và một ư muốn của con người. Trong cuộc sống nơi trần gian, Con
Thiên Chúa đă muốn làm theo con người điều mà Người đă quyết định theo thần tính
với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần về ơn cứu độ chúng ta. Ư muốn nhân loại của Đức
Kitô luôn theo ư muốn thần linh, không miễn cưỡng, không đối kháng, và hơn nữa,
ư muốn nhân loại của Người đă tùng phục ư muốn thần linh.
92.
Đức Kitô có một thân xác con người thật không ?
476-477
Đức Kitô đă đón nhận một
thân xác thật sự của con người, qua đó Thiên Chúa vô h́nh đă trở nên hữu h́nh.
V́ thế, Đức Kitô có thể được tŕnh bày và tôn kính qua các ảnh tượng thánh.
93.
Trái tim của Đức Kitô nói lên điều ǵ ?
478
Đức Kitô biết và yêu
thương chúng ta bằng một trái tim của con người. Trái tim của Người bị đâm thâu
để cứu độ chúng ta, là biểu trưng cho t́nh yêu vô biên của Người đối với Chúa
Cha và đối với tất cả mọi người.
94.
Câu “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai…” có ư nghĩa ǵ ?
484-486
Câu này muốn nói lên rằng
Đức Trinh Nữ Maria đă thụ thai trong ḷng ḿnh Người Con Vĩnh Cửu là bởi tác
động của Chúa Thánh Thần chứ không có sự cộng tác của một người nam : “Thánh
Thần sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1,35), đó là lời thiên thần đă nói với Đức Maria
lúc Truyền tin.
95.
“… sinh bởi Bà Maria Đồng Trinh” : tại sao Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên
Chúa ?
495
509
Đức Maria thật sự là Mẹ
Thiên Chúa bởi v́ là Mẹ của Chúa Giêsu (Ga 2,1; 19,25). Thật vậy, Đấng mà Mẹ
đă cưu mang bởi tác động của Chúa Thánh Thần và đă thực sự là con của Mẹ, chính
là Con hằng hữu của Thiên Chúa Cha. Chính Người là Thiên Chúa.
96.
“Vô Nhiễm Nguyên Tội” nghĩa là ǵ ?
487-492
508
Từ muôn thuở và một cách
hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đă chọn Đức Maria làm Mẹ của Con ḿnh. Để chu
toàn sứ mạng này, Mẹ đă được ơn vô nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Điều
này có nghĩa là, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và đón nhận trước công nghiệp của
Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đă được ǵn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được
thụ thai.
97.
Đức Maria đă cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa như thế nào ?
493-494
508-511
Nhờ ân sủng của Thiên
Chúa, Đức Maria, suốt đời vẫn tinh tuyền không hề phạm một tội riêng nào. Mẹ là
“Đấng đầy ân phúc”(Lc 1,28), “Đấng rất thánh.” Khi Thiên Thần báo tin rằng Mẹ sẽ
sinh “Con Đấng Tối cao” (Lc 1,32), Mẹ đă tự do chấp nhận trong “sự vâng phục của
đức tin” (Rm 1,5). Đức Maria tự hiến hoàn toàn cho con người và công tŕnh của
Chúa Giêsu, Con của Mẹ, và với trọn tâm hồn Mẹ chấp nhận ư định cứu độ của
Thiên Chúa.
98.
Việc mang thai Chúa Giêsu một cách đồng trinh có ư nghĩa ǵ ?
496-498
503
Điều này có nghĩa là Chúa
Giêsu được thụ thai trong ḷng Đức Trinh Nữ chỉ do quyền năng của Chúa Thánh
Thần mà thôi, không có sự can thiệp của người đàn ông. Người là Con Thiên Chúa
trên trời theo thần tính, là Con của Đức Maria theo nhân tính, nhưng thực sự là
Con Thiên Chúa trong hai bản tính, cùng hiện diện trong một Ngôi vị duy nhất, là
ngôi vị thần linh.
99.
Câu “Đức Maria trọn đời đồng trinh” có ư nghĩa ǵ ?
499-507
510-511
“Đức Maria trọn đời đồng
trinh” có nghĩa là Mẹ “vẫn c̣n đồng trinh khi thụ thai Con ḿnh, đồng trinh khi
sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng trinh khi cho Người bú mớm, là
người mẹ đồng trinh, vĩnh viễn đồng trinh” (thánh Augustinô). Khi các Phúc Âm
nói về “anh chị em của Chúa Giêsu,” th́ đó là những người bà con họ hàng gần của
Chúa Giêsu, theo như cách nói thông thường trong Thánh Kinh.
100.
Bằng cách nào t́nh mẫu tử thiêng liêng của Đức Maria mang tính phổ quát ?
501-507
511
Đức Maria chỉ có một người
Con duy nhất, là Chúa Giêsu, nhưng trong Người, t́nh mẫu tử thiêng liêng của Mẹ
nới rộng cho hết mọi người đă được Chúa Giêsu cứu độ. Vâng phục bên cạnh Ađam
mới là Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ là bà Evà mới, bà mẹ đích thực của chúng
sinh. Với t́nh yêu từ mẫu, Mẹ cộng tác vào việc sinh hạ và nuôi dưỡng họ trong
trật tự ân sủng. Vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, Đức Maria là h́nh ảnh của Hội thánh,
là sự thể hiện toàn hảo nhất của Hội thánh.
101.
“Cả cuộc đời Đức Kitô là một Mầu nhiệm” nghĩa là ǵ ?
512-521
561-562
Cả cuộc đời của Đức Kitô
là một sự kiện mạc khải. Điều có thể thấy được trong cuộc đời trần thế của Người
dẫn chúng ta đến Mầu nhiệm vô h́nh , nhất là Mầu nhiệm Con Thiên Chúa
của Người : “Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Đàng khác, mặc dù ơn cứu
độ đă được hoàn thành trọn vẹn qua thập giá và cuộc phục sinh, nhưng trọn cuộc
đời của Đức Kitô là Mầu nhiệm cứu độ, v́ tất cả những ǵ Chúa Giêsu đă
làm, đă nói và đă chịu đau khổ đều có mục đích là để cứu độ loài người sa ngă và
để tái lập ơn gọi làm con Thiên Chúa của chúng ta.
102.
Các mầu nhiệm của Chúa Giêsu đă được chuẩn bị như thế nào ?
522-524
Trước hết, đă có một thời
gian hy vọng lâu dài hằng bao thế kỷ, mà chúng ta cảm nhận lại khi cử hành Phụng
vụ mùa Vọng. Ngoài sự chờ đợi lờ mờ mà Thiên Chúa đă đặt để trong tâm hồn các
người ngoại giáo, Thiên Chúa đă chuẩn bị cho việc Con Ngài ngự đến qua Giao ước
cũ, cho đến thời ông Gioan Tẩy Giả, là người cuối cùng, nhưng lại vĩ đại
nhất trong số các tiên tri.
103.
Tin Mừng về mầu nhiệm Giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu dạy chúng
ta điều ǵ ?
525-530
563-564
Vào lúc Giáng sinh,
vinh quang thiên quốc được tỏ lộ trong sự yếu đuối của Hài Nhi. Việc cắt b́
Chúa Giêsu đă lănh nhận là dấu chỉ Người thuộc về dân Do Thái và tượng trưng cho
Bí tích Rửa tội của chúng ta. Hiển Linh là việc Vua-Mêsia của Israel tỏ
ḿnh ra cho tất cả muôn dân. Lúc dâng Chúa vào trong Đền Thờ, người ta
nhận ra nơi ông Simeon và bà Anna sự chờ đợi của dân Israel, nay đến gặp gỡ
Đấng Cứu Độ của ḿnh. Cuộc trốn sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội
báo trước cả cuộc đời của Đức Kitô sẽ chịu nhiều bách hại. Việc
Người rời bỏ Ai Cập để trở về nhắc lại cuộc xuất hành và giới thiệu Đức
Kitô như ông Môsê mới : Người là Đấng giải phóng đích thực và tối hậu.
104.
Quăng đời ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nazareth dạy chúng ta điều ǵ ?
533-534
564
Suốt cuộc sống ẩn dật
ở Nazareth,
Chúa Giêsu đă âm thầm sống một cuộc sống b́nh thường. Như vậy, Người cho phép
chúng ta hiệp thông với Người trong sự thánh thiện của đời sống thường ngày được
dệt bằng lời cầu nguyện, sự đơn sơ, lao động, t́nh yêu gia đ́nh. Việc vâng phục
của Người đối với Đức Maria và thánh Giuse, cha nuôi của Người, là h́nh ảnh của
sự vâng phục con thảo đối với Chúa Cha của Người. Với đức tin, Đức Maria và
thánh Giuse đón nhận mầu nhiệm của Chúa Giêsu, dù rằng không phải lúc nào các
ngài cũng hiểu được mầu nhiệm ấy.
105. Tại sao Chúa Giêsu
lănh nhận phép rửa của ông Gioan để “sám hối hầu được ơn tha tội” (Lc 3,3) ?
535-537
565
Để khởi đầu quăng đời công
khai và để tham dự trước vào Phép rửa là cái chết của ḿnh, Chúa Giêsu,
dù không có tội lỗi nào, và là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga
1,29), cũng chấp nhận liệt ḿnh vào hàng các tội nhân. Chúa Cha tuyên bố Người
là “Con yêu dấu” của ḿnh (Mt 3,17) và Thánh Thần ngự xuống trên Người. Phép rửa
của Chúa Giêsu là h́nh ảnh báo trước Bí tích Rửa tội của chúng ta.
106.
Những
cơn cám dỗ của Chúa Giêsu trong sa mạc nói lên điều ǵ ?
538-540
566
Những cám dỗ Chúa Giêsu
phải chịu trong sa mạc thu tóm cơn cám dỗ của Ađam trong vườn địa đàng và những
cơn cám dỗ của Israel trong sa mạc. Satan cám dỗ Chúa Giêsu về sự vâng phục sứ
vụ mà Chúa Cha đă trao phó. Đức Kitô, Ađam mới, đă chống lại cơn cám dỗ, và
chiến thắng của Người báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn, là sự vâng phục
tuyệt đối trong t́nh yêu con thảo của Người. Trong thời gian Phụng vụ Mùa Chay,
Hội thánh kết hợp với Mầu nhiệm này cách đặc biệt.
107. Ai được mời gọi
tham dự vào Nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu loan báo và thực hiện ?
541-546
567
Chúa Giêsu mời gọi mọi
người tham dự vào Nước Thiên Chúa. Cả kẻ xấu xa nhất trong các tội nhân cũng
được mời gọi sám hối và đón nhận ḷng thương xót vô biên của Chúa Cha. Ngay trên
mặt đất này, Nước Thiên Chúa đă thuộc về những ai đón nhận với tâm hồn khiêm
tốn. Những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa được mạc khải cho những người này.
108. Tại sao Chúa Giêsu
biểu lộ Nước Trời bằng các dấu chỉ và phép lạ ?
547-550
567
Chúa Giêsu làm các dấu chỉ
và phép lạ kèm theo lời của Người, để chứng tỏ rằng Nước Trời đang hiện diện nơi
Người, là Đấng Mêsia. Mặc dù đă chữa lành một số bệnh nhân, Người không đến để
loại trừ mọi cái xấu ra khỏi trái đất, nhưng trước hết là để giải phóng con
người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Cuộc chiến đấu chống lại ma quỉ báo trước rằng
thập giá của Người sẽ chiến thắng “thủ lănh thế gian” (Ga 12,31).
109. Trong Nước Trời,
Chúa Giêsu đă trao quyền hành nào cho các Tông đồ của Người ?
551-553
567
Chúa Giêsu chọn Nhóm
Mười Hai, những chứng nhân tương lai cho cuộc phục sinh của Người. Người cho
họ tham dự vào sứ vụ và quyền hành của Người để dạy dỗ, tha thứ tội lỗi, xây
dựng và điều khiển Hội thánh. Trong Nhóm này, thánh Phêrô lănh nhận “ch́a khóa
Nước Trời” (Mt 16,19) và chiếm địa vị thứ nhất, có sứ mạng ǵn giữ đức tin được
toàn vẹn và củng cố các anh em ḿnh.
110. Việc Hiển Dung có
ư nghĩa ǵ ?
554-556
568
Trước hết, Thiên Chúa Ba
Ngôi xuất hiện trong cuộc Hiển Dung : “Chúa Cha trong lời nói, Chúa Con trong
nhân tính của ḿnh, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói” (thánh Tôma
Aquinô). Khi gợi lên cho ông Môsê và ông Êlia về cuộc “ra đi của ḿnh” (Lc
9,31), Chúa Giêsu cho thấy rằng vinh quang của Người phải kinh qua thập giá; và
Người sống trước cuộc phục sinh và cuộc trở lại trong vinh quang của Người, lúc
Người “sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển
của Người” (Pl 3,21).
“Chúa đă hiển dung trên
núi và các môn đệ chiêm ngắm vinh quang Người tùy khả năng, để mai sau khi thấy
Người chịu đóng đinh thập giá, họ hiểu rằng Người đă tự nguyện chịu khổ h́nh.
Rồi họ sẽ loan báo cho muôn dân biết Người chính là vinh quang Chúa Cha chiếu
tỏa” (Phụng Vụ Byzantin).
111. Chúa Giêsu vào
thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Mêsia như thế nào ?
557-560
569-570
Vào thời gian đă định,
Chúa Giêsu quyết lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại từ cơi
chết. Với tư cách là Đức Vua-Mêsia, Đấng loan báo Vương quốc của Thiên Chúa đến,
Người đi vào thành của Người, cỡi trên một con lừa. Những kẻ bé mọn đón rước
Người bằng lời tung hô mà về sau được đưa vào kinh “Thánh! Thánh! Thánh!”
trong Thánh Lễ : “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” (Mt 21,9). Phụng vụ Hội
thánh khởi đầu Tuần Thánh bằng việc cử hành biến cố này.
“ĐỨC
GIÊSU KITÔ ĐĂ CHỊU NẠN ĐỜI QUAN PHONGXIÔ PHILATO,
CHỊU ĐÓNG ĐINH TRÊN CÂY THÁNH GIÁ,
CHẾT VÀ TÁNG XÁC”
112.
Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu có tầm quan trọng nào ?
571-573
Mầu nhiệm Vượt qua của
Chúa Giêsu, bao gồm cuộc khổ nạn, cái chết, sự phục sinh và tôn vinh của Người,
là trung tâm của đức tin Kitô giáo. V́ ư định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn
tất một lần thay cho tất cả nhờ cái chết cứu độ của Con Thiên Chúa là Đức Giêsu
Kitô.
113. Chúa Giêsu bị kết
án v́ những lời buộc tội nào ?
574-576
Một số thủ lănh Israel đă
kết án Chúa Giêsu chống lại Lề Luật, chống lại Đền thờ Giêrusalem và đặc biệt
chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, bởi v́ Người tự tuyên bố ḿnh là Con
của Thiên Chúa. Chính v́ thế họ đă nộp Người cho quan Philatô, để Người bị kết
án tử h́nh.
114. Đâu là thái độ của
Chúa Giêsu đối với Lề luật Israel ?
577-582
592
Chúa Giêsu không hủy bỏ Lề
luật do Thiên Chúa trao ban cho ông Môsê trên núi Sinai, nhưng Người đă làm cho
Lề luật nên trọn bằng cách đem lại cho Lề luật lời giải thích tối hậu. Người là
Đấng ban hành Lề luật của Thiên Chúa, Đấng chu toàn Lề luật cách viên măn. Ngoài
ra, qua cái chết đền tội trong vai tṛ Người Tôi Trung, Người hiến dâng hy tế
duy nhất có khả năng cứu chuộc tất cả “tội lỗi người ta đă phạm trong thời Giao
ước đầu tiên” (Dt 9,15).
115. Đâu là thái độ của
Chúa Giêsu đối với Đền thờ Giêrusalem ?
583-586
593
Chúa Giêsu bị kết án là có
thái độ thù nghịch với Đền thờ. Thực ra, Người đă tôn trọng Đền thờ như là “nhà
của Cha ḿnh” (Ga 2,16). Chính tại đó Người đă giảng dạy một phần giáo huấn quan
trọng của Người. Nhưng Người cũng báo trước Đền thờ sẽ bị tàn phá, trong liên hệ
với cái chết của Người. Người tự giới thiệu ḿnh là nơi cư ngụ vĩnh viễn của
Thiên Chúa giữa loài người.
116.
Chúa Giêsu có chống lại niềm tin của Israel vào Thiên Chúa duy nhất và
là Đấng cứu độ hay không ?
587-591
594
Chúa Giêsu không bao giờ
chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, cả khi Người hoàn tất công tŕnh của
Thiên Chúa cách trọn hảo, chu toàn các lời hứa về Đấng Mêsia và đồng thời mạc
khải Người ngang hàng với Thiên Chúa : đó là việc tha thứ các tội lỗi. Người mời
gọi chúng ta phải tin vào Người và phải sám hối, giúp chúng ta nhận ra sự hiểu
lầm bi thảm của Công nghị đă kết án Người đáng phải chết v́ lư do phạm thượng.
117.
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu ?
595-598
Không thể qui trách nhiệm
cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho mọi người
Do Thái thời đó, cũng như cho con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân, nghĩa là mọi
người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau khổ của Đấng Cứu
Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người, đặc biệt nhất là các
người Kitô hữu, thường xuyên sa ngă phạm tội và vui thoả trong những điều xấu
xa.
118.
Tại sao cái chết của Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa ?
599-605
619
Để tất cả chúng ta, là
những kẻ đáng chết, được giao ḥa trong Đức Kitô, Thiên Chúa đă đưa ra một kế
hoạch tràn đầy t́nh yêu là sai Con ḿnh đến phó ḿnh chịu chết v́ những kẻ tội
lỗi. Cái chết của Đức Kitô đă được loan báo trong Cựu Ước, đặc biệt như hy tế
của Người Tôi Tớ chịu đau khổ, và đă xảy ra “theo như lời Thánh Kinh.”
119.
Đức Kitô đă dâng hiến ḿnh cho Chúa Cha như thế nào ?
606-609
620
Đức Kitô đă tự do dâng
hiến ḿnh cho Chúa Cha, để chu toàn ư định cứu độ. Người đă trao ban sự sống
“làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45). Nhờ đó, Người giao ḥa toàn thể nhân
loại với Thiên Chúa. Sự đau khổ và cái chết của Người cho thấy nhân tính của
Người là dụng cụ tự do và hoàn hảo để Thiên Chúa, Đấng muốn cứu độ mọi người,
thể hiện t́nh yêu của Ngài.
120.
Việc
dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly ?
610-611
621
Trong Bữa Tiệc Ly với các
Tông đồ vào buổi tối truớc cuộc Khổ nạn, Chúa Giêsu đă tham dự trước, nghĩa là
Người ám chỉ và thực hiện trước, việc tự nguyện dâng hiến chính ḿnh : “Đây là
Ḿnh Thầy bị nộp v́ anh em” (Lc 22,19); “Đây là Máu Thầy, máu đổ ra…” (Mt
26,28). Như thế, Người vừa thiết lập Bí tích Thánh Thể như việc “tưởng nhớ” (1
Cr 11,25) đến hy tế của Người, vừa thiết lập các Tông đồ của Người thành những
tư tế của Giao ước mới.
121.
Điều ǵ đă xảy ra trong cơn hấp hối nơi vườn Giếtsêmani ?
612
Mặc dầu nhân tính rất
thánh của Đấng là “Tác giả sự sống” (Cv 3,15) đă khiếp sợ sự chết, nhưng ư chí
nhân loại của Con Thiên Chúa vẫn tùng phục thánh ư Chúa Cha : để cứu độ chúng
ta, Chúa Giêsu chấp nhận gánh lấy tội lỗi chúng ta trong thân xác ḿnh, Người
“vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết” (Pl 2,8).
122.
Hiệu quả hy tế của Đức Kitô trên thập giá là ǵ ?
613-617
622-623
Chúa Giêsu tự nguyện hiến
dâng mạng sống ḿnh làm hy lễ đền tội, nghĩa là Người sửa lại tội lỗi chúng ta
bằng sự vâng phục trọn vẹn của Người v́ t́nh yêu cho đến chết. T́nh “Yêu thương
đến cùng” (Ga 13,1) của Con Thiên Chúa đă giao ḥa toàn thể nhân loại với Thiên
Chúa. Như vậy, Hy lễ Vượt qua của Đức Kitô cứu chuộc mọi người cách độc nhất vô
nhị, hoàn hảo và tối hậu, và mở lối cho họ vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.
123.
Tại sao Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ vác lấy thập giá của họ ?
618
Khi kêu gọi các môn đệ vác
thập giá ḿnh mà theo Người, Chúa Giêsu muốn những người đầu tiên hưởng nhờ hy
tế cứu độ của Người được kết hợp vào hy tế ấy.
124.
Thân xác của Chúa Giêsu ở trong t́nh trạng nào khi Người nằm trong mồ ?
624-630
Đức Kitô đă chết thật sự
và đă được mai táng thật sự. Nhưng quyền năng Thiên Chúa đă ǵn giữ thân xác
Người khỏi bị hư nát.
“ĐỨC GIÊSU KITÔ XUỐNG NGỤC
TỔ TÔNG,
NGÀY THỨ BA BỞI TRONG KẺ
CHẾT MÀ SỐNG LẠI”
125.
“Ngục tổ tông” mà Chúa Giêsu đi xuống là ǵ ?
632-637
“Ngục tổ tông” – khác với
hỏa ngục của án phạt – là t́nh trạng của những người chết trước thời của Chúa
Giêsu, dù họ lành thánh hay xấu xa. Với linh hồn được kết hợp với Ngôi vị thần
linh, Chúa Giêsu xuống với những kẻ công chính trong ngục tổ tông, là những
người đang mong chờ Đấng Cứu Chuộc họ, để cuối cùng họ có thể đạt được sự hưởng
kiến Thiên Chúa. Sau khi nhờ cái chết của Người, Chúa Giêsu đă chiến thắng cả sự
chết lẫn ma quỉ là “lănh chúa của sự chết” (Dt 2,14), Người giải thoát những
người công chính đang mong chờ Đấng Cứu Chuộc, và Người mở cửa trời cho họ.
126.
Cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta ?
631,638
Cuộc Phục sinh là chân lư
cao cả nhất của đức tin chúng ta vào Đức Kitô. Với thập giá, cuộc Phục sinh là
phần thiết yếu của mầu nhiệm Vượt qua.
127.
Những “dấu chỉ” nào làm chứng cho cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu ?
639-644
656-657
Ngoài dấu chỉ chính yếu là
mồ trống, cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu được làm chứng bởi một số phụ nữ ; họ
là những người đầu tiên đă gặp gỡ Người và đă báo tin cho các Tông đồ. Tiếp đó,
Chúa Giêsu đă “hiện ra với Kêpha” (tức là thánh Phêrô), rồi với Nhóm Mười Hai.
Sau đó, Người đă hiện ra cùng một lúc với hơn năm trăm anh em (1 Cr 15,5-6) và
c̣n nhiều người khác nữa. Các Tông đồ đă không thể bày đặt ra chuyện Phục sinh,
v́ Phục sinh đối với họ là chuyện không thể có được. Quả thật, Chúa Giêsu cũng
đă trách cứ sự cứng ḷng tin của họ.
128.
Tại sao Phục sinh cũng là một biến cố siêu việt ?
647
656-657
Tuy là một sự kiện mang
tính lịch sử, có thể xác định và chứng thực qua các dấu chỉ và chứng cớ, nhưng
v́ là việc nhân tính của Đức Kitô bước vào vinh quang của Thiên Chúa, nên Phục
sinh cũng siêu việt và vượt quá lịch sử, thực sự là Mầu nhiệm đức tin. Chính v́
thế, Đức Kitô Phục sinh không tỏ ḿnh ra cho thế gian, nhưng chỉ cho các môn đệ
Người, làm cho họ trở thành những chứng nhân của Người trước mặt dân chúng.
129.
Thân xác phục sinh của Chúa Giêsu ở trong t́nh trạng nào ?
645-646
Sự Phục sinh của Đức Kitô
không phải là một cuộc trở lại đời sống trần thế. Thân xác phục sinh của Người,
cũng chính là thân xác đă chịu đóng đinh, và vẫn mang vết tích của cuộc khổ nạn,
nhưng từ lúc Phục sinh, thân xác này được tham dự vào đời sống thần linh với
những đặc điểm của một thân xác vinh hiển. V́ thế, Đức Giêsu Kitô Phục sinh
tuyệt đối tự do khi hiện ra với các môn đệ Người, theo cách thức và nơi chốn như
Người muốn, dưới nhiều h́nh dạng khác nhau.
130.
Sự Phục sinh là công tŕnh của Ba Ngôi Cực Thánh theo cách nào ?
648-650
Sự Phục sinh của Đức Kitô
là một hành động siêu việt của Thiên Chúa. Cả Ba Ngôi cùng hoạt động chung theo
tính cách riêng biệt của mỗi Ngôi : Chúa Cha bày tỏ quyền năng của ḿnh; Chúa
Con “lấy lại” sự sống mà Người đă tự do dâng hiến (Ga 10,17) bằng cách kết hợp
linh hồn và thân xác ḿnh, mà Chúa Thánh Thần làm cho sống động và tôn vinh.
131.
Đâu là ư nghĩa và ảnh hưởng của cuộc Phục sinh đối với ơn cứu độ ?
651-655
658
Phục sinh là chóp đỉnh của
mầu nhiệm Nhập Thể, xác nhận thần tính của Đức Kitô cũng như tất cả những ǵ
Người đă làm và đă giảng dạy. Cuộc Phục sinh thực hiện tất cả các lời hứa của
Thiên Chúa v́ lợi ích của chúng ta. Hơn nữa, Đấng Phục sinh, Đấng chiến thắng
tội lỗi và cái chết, là nguyên lư cho việc công chính hóa và sự phục sinh của
chúng ta. Ngay từ bây giờ, Phục sinh mang lại cho chúng ta ơn được làm nghĩa tử
Thiên Chúa, khiến chúng ta được thực sự tham dự vào sự sống của Con duy nhất,
Đấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được sống lại vào ngày tận thế.
“CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI
NGỰ BÊN HỮU ĐỨC CHÚA CHA
PHÉP TẮC VÔ CÙNG”
132.
Việc Đức Kitô lên trời có ư nghĩa ǵ ?
659-667
Trong ṿng bốn mươi ngày,
Đức Kitô hiện ra với các tông đồ dưới h́nh dạng con người b́nh thường, che giấu
vinh quang của Đấng Phục sinh, sau đó Người lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa
Cha. Người là Chúa, từ nay với nhân tính của Người, Người cai trị trong vinh
quang vĩnh cửu của Con Thiên Chúa và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta nơi
Thiên Chúa Cha. Người cử Thánh Thần của Người đến với chúng ta và ban cho chúng
ta niềm hy vọng một ngày kia sẽ được theo Ngườiù, đến nơi Người đă dọn sẵn cho
chúng ta.
“NGÀY SAU BỞI TRỜI
LẠI XUỐNG PHÁN XÉT KẺ SỐNG
VÀ KẺ CHẾT”
133.
Hiện tại, Chúa Giêsu thống trị như thế nào ?
668-674
680
Là Đức Chúa của vũ trụ và
lịch sử, là Thủ lănh Hội thánh của Người, Đức Kitô vinh hiển vẫn hiện diện một
cách mầu nhiệm trên trần gian, nơi Vương quốc của Người đă hiện diện như hạt
giống và đă khởi đầu trong Hội thánh. Một ngày kia, Người sẽ trở lại trong vinh
quang, nhưng chúng ta không biết được ngày nào giờ nào. V́ thế, chúng ta sống
tỉnh thức trong cầu nguyện : “Lạy Chúa, xin hăy đến” (Kh 22,20).
134.
Việc Chúa ngự đến trong vinh quang sẽ diễn ra như thế nào ?
675-677
680
Sau cơn rung chuyển cuối
cùng trong vũ trụ của thế giới sẽ qua đi này, Đức Kitô sẽ ngự đến vinh quang với
chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa trong cuộc quang lâm
và với cuộc phán xét cuối cùng. Như thế Nước Thiên Chúa sẽ được hoàn
thành.
135.
Đức Kitô sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết như thế nào ?
678-679
681-682
Đức Kitô sẽ phán xét với
quyền năng mà Người đă thu nhận được như Đấng Cứu Chuộc trần gian, đă đến để cứu
độ loài người. Những điều kín nhiệm trong tâm hồn cũng như thái độ của mỗi người
đối với Thiên Chúa và tha nhân sẽ được tỏ ra. Mỗi người sẽ đón nhận sự sống hay
bị kết án đời đời tùy theo các công việc họ đă làm. Như thế “sự viên măn của Đức
Kitô” (Ep 4,13) được thành tựu, trong đó “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn
loài” (1 Cr 15,28).
CHƯƠNG BA
“TÔI TIN KÍNH ĐỨC
CHÚA THÁNH THẦN”
136.
Hội thánh muốn nói ǵ khi tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần” ?
683-686
Tin vào Chúa Thánh Thần là
tuyên xưng rằng Ngài là Ngôi Thứ Ba của Ba Ngôi Cực Thánh; Ngài xuất phát từ
Chúa Cha và Chúa Con, và Ngài “được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và
Chúa Con”. Chúa Thánh Thần được “sai đến . . . trong ḷng chúng ta” (Gl 4,6) để
chúng ta có thể nhận lănh sự sống mới như những người con của Thiên Chúa.
137.
Tại sao sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần không thể tách
rời nhau ?
687-690
742-743
Trong Ba Ngôi không thể
phân chia, Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt với nhau, nhưng không tách rời
nhau. Thực vậy, từ khởi đầu cho đến cùng tận thời gian, khi Chúa Cha sai Con
Ngài, th́ cũng sai Thánh Thần của ḿnh, Đấng kết hợp chúng ta với Đức Kitô trong
đức tin, để với tư cách là dưỡng tử, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là “Cha” (Rm
8,15). Chúa Thánh Thần vô h́nh, nhưng chúng ta nhận ra Ngài qua tác động của
Ngài, khi Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng ta và khi Ngài hoạt động trong Hội
thánh.
138.
Những tên gọi khác của Chúa Thánh Thần là ǵ ?
691-693
“Chúa Thánh Thần” là Danh
xưng của Ngôi Ba. Đức Kitô cũng gọi Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi (Parakletos -
Trạng sư) và Thần Chân Lư. Tân Ước c̣n gọi Ngài là Thánh Thần của Đức Kitô, của
Đức Chúa, của Thiên Chúa, Thánh Thần của Vinh quang, Thánh Thần của Lời hứa.
139.
Những biểu tượng về Chúa Thánh Thần là ǵ ?
694-701
Có rất nhiều biểu tượng về
Chúa Thánh Thần : nước hằng sống tuôn trào từ trái tim bị đâm thâu của
Đức Kitô và giải cơn khát cho những người đă được Rửa tội; việc xức dầu,
đó là dấu chỉ của Bí tích Thêm sức; lửa biến đổi tất cả những ǵ lửa bén
tới; áng mây, mờ tối hay rạng ngời, trong đó vinh quang Thiên Chúa được
tỏ hiện; việc đặt tay thông ban Chúa Thánh Thần; chim bồ câu đă
ngự xuống và ở lại trên Đức Kitô lúc Người chịu phép rửa.
140.
“Chúa Thánh Thần đă dùng các tiên tri mà phán dạy” nghĩa là ǵ ?
687-688
702-706
743
Từ “Các tiên tri” ở
đây được dùng để chỉ những người được Chúa Thánh Thần linh ứng để họ nói nhân
danh Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đă làm cho các lời tiên tri trong Cựu Ước được
ứng nghiệm hoàn toàn nơi Đức Kitô; cũng chính Chúa Thánh Thần mạc khải mầu nhiệm
Đức Kitô trong Tân Ước.
141.
Hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi thánh Gioan Tẩy Giả như thế nào ?
717-720
Chúa Thánh Thần đổ tràn
trên thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước. Dưới tác động của
Thánh Thần, ông được sai đi để “chuẩn bị một dân cho Chúa” (Lc 1,17) và để loan
báo việc Đức Kitô, Con Thiên Chúa, ngự đến ; đó là Đấng mà ông đă thấy Thánh
Thần ngự xuống và ở lại trên Người, Đấng “sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần” (Ga
1,33).
142.
Đâu là công tŕnh của Chúa Thánh Thần nơi Đức Maria ?
721-726
744
Mọi mong chờ việc Đức Kitô
đến và sự chuẩn bị cho Người trong Cựu Ước được Chúa Thánh Thần hoàn thành tất
cả nơi Đức Maria. Một cách độc nhất vô nhị, Chúa Thánh Thần đă đổ tràn ân sủng
trên Đức Maria và làm cho đức trinh khiết của Mẹ nên phong phú, để Mẹ sinh hạ
Người Con của Thiên Chúa trong thân xác. Chúa Thánh Thần đă làm cho Đức Maria
trở thành Mẹ của “Đức Kitô toàn thể,” nghĩa là của Đức Kitô là Đầu và của Hội
thánh là thân thể Người. Đức Maria hiện diện giữa nhóm Mười Hai ngày lễ Hiện
Xuống, khi Thánh Thần khai mở “thời đại cuối cùng” với việc xuất hiện của Hội
thánh.
143.
Trong sứ vụ trần thế, Đức Giêsu Kitô có liên hệ ǵ với Chúa Thánh Thần ?
727-730
745-746
Từ khi nhập thể, Con Thiên
Chúa được thánh hiến trở thành Đức Kitô trong nhân tính của Người nhờ việc xức
dầu bằng Chúa Thánh Thần. Đức Kitô mạc khải Chúa Thánh Thần trong giáo huấn của
Người, hoàn thành lời hứa đă được ban cho các tổ phụ. Người trao ban Thánh Thần
cho Hội thánh vừa khai sinh khi thổi hơi trên các Tông đồ sau khi Người Phục
sinh.
144.
Điều ǵ dă xảy ra trong ngày lễ Ngũ tuần ?
731-732
738
Năm mươi ngày sau cuộc
Phục sinh, vào lễ Ngũ tuần, Đức Giêsu Kitô vinh hiển đă đổ tràn Thánh Thần và
mạc khải Ngài là một Ngôi Vị Thiên Chúa, qua đó Ba Ngôi cực thánh được mạc khải
trọn vẹn. Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần trở thành sứ vụ của Hội
thánh, được sai đi công bố và loan truyền mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi.
“Chúng con đă thấy ánh
sáng thật, chúng con đă lănh nhận Thánh Thần Thiên Chúa, chúng con đă t́m được
đức tin chân chính : chúng con tôn thờ Ba Ngôi bất khả phân ly, v́ chính Ba Ngôi
đă cứu độ chúng con”
(Phụng vụ Byzantin, Điệp ca lễ Hiện Xuống).
145.
Chúa Thánh Thần làm ǵ trong Hội thánh ?
733-741
747
Chúa Thánh Thần xây dựng,
linh hoạt và thánh hóa Hội thánh : Là Thánh Thần T́nh Yêu, Ngài làm cho những
người đă lănh nhận Bí tích Rửa tội nhận lại được ơn giống Thiên Chúa đă bị đánh
mất v́ tội lỗi; Ngài giúp họ sống trong Đức Kitô bằng chính Sự sống của Ba Ngôi
cực thánh. Người sai họ đi làm chứng cho Chân lư của Đức Kitô và cắt đặt họ vào
trong các phận vụ hỗ tương, để mọi người đem lại “hoa trái của Thánh Thần” (Ga
5,22).
146.
Đức Kitô và Thánh Thần của Người hoạt động như thế nào trong tâm hồn các
tín hữu ?
738-741
Nhờ các Bí tích,
Đức Kitô thông truyền Thánh Thần của Người và ân sủng của Thiên Chúa cho các chi
thể trong thân thể Người. Ân sủng này mang lại hoa trái của đời sống mới
theo Thánh Thần. Cuối cùng, Thánh Thần là Thầy dạy cầu nguyện.
“TÔI TIN CÓ HỘI THÁNH CÔNG
GIÁO”
Hội thánh trong kế
hoạch của Thiên Chúa
147. Hai tiếng Hội thánh
có nghĩa là ǵ ?
751-752
777, 804
Hội thánh là dân được
Thiên Chúa kêu gọi và qui tụ từ khắp nơi trên thế giới, gồm những người, nhờ đức
tin và Bí tích Rửa tội, trở thành con cái Thiên Chúa, chi thể của Đức Kitô và
đền thờ của Chúa Thánh Thần.
148. Trong Thánh Kinh, có
những danh hiệu và h́nh ảnh nào khác để chỉ Hội thánh không ?
753-757
Trong Thánh Kinh chúng ta
t́m thấy nhiều h́nh ảnh làm nổi bật những phương diện khác nhau của mầu nhiệm
Hội thánh. Cựu Ước dành ưu tiên cho những h́nh ảnh liên kết với dân Thiên
Chúa ; Tân Ước bằng những h́nh ảnh gắn liền với Đức Kitô như là đầu và dân
là chi thể của Người; cũng có những h́nh ảnh khác rút từ đời sống thôn quê
(chuồng chiên, đàn chiên, con chiên), đời sống đồng áng (ruộng vườn, cây Ôliu,
vườn nho), từ nhà cửa (nhà ở, viên đá, đền thờ) và từ cuộc sống gia đ́nh (người
vợ, người mẹ, gia đ́nh).
149. Đâu là khởi đầu và
hoàn thành của Hội thánh ?
758-766
778
Cả khởi đầu và sự hoàn
thành của Hội thánh đều nằm trong kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. Hội thánh đă
được chuẩn bị trong Giao ước cũ qua việc tuyển chọn Israel, dấu chỉ cuộc tập họp
trong tương lai gồm tất cả các dân tộc. Hội thánh được đặt nền tảng trên lời nói
và việc làm của Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt được hiện thực nhờ cái chết và cuộc
phục sinh cứu độ của Người. Rồi Hội thánh được tỏ hiện như mầu nhiệm cứu độ bằng
việc tuôn đổ Thánh Thần trong ngày lễ Hiện xuống. Hội thánh sẽ hoàn thành vào
ngày tận thế như cuộc tập họp thiên quốc của tất cả những người được cứu chuộc.
150. Sứ mạng của Hội thánh
là ǵ ?
767-769
Sứ mạng của Hội thánh là
rao truyền Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô đă khởi đầu và thiết lập Nước ấy
giữa mọi dân tộc. Hội thánh thiết lập trên trái đất mầm giống và khởi điểm của
Vương quốc cứu độ này.
151. Hội thánh là mầu
nhiệm theo nghĩa nào ?
770-773
779
Hội thánh là mầu nhiệm bởi
v́, trong thực tại hữu h́nh của ḿnh, Hội thánh diễn tả và thực hiện một thực
tại thiêng liêng, thần linh, chỉ có thể nhận ra bằng con mắt đức tin.
152. “Hội thánh là bí tích
phổ quát của ơn cứu độ” có nghĩa là ǵ ?
774-776
780
Câu này muốn nói Hội thánh
là dấu chỉ và khí cụ cho việc giao ḥa và hiệp thông toàn thể nhân loại với
Thiên Chúa cũng như cho sự hợp nhất nhân loại.
Hội Thánh : Dân
Thiên Chúa, Thân thể Đức Kitô, Đền thờ Chúa Thánh Thần
153. Tại sao Hội thánh
là Dân Thiên Chúa ?
781
802-804
Hội thánh là Dân Thiên
Chúa, bởi v́ Ngài muốn thánh hóa và cứu độ mọi người không phải cách riêng rẽ,
nhưng thiết lập họ thành một Dân duy nhất, được qui tụ trong sự hợp nhất của
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
154. Đâu là những đặc tính
của Dân Thiên Chúa ?
782
Dân Thiên Chúa mà chúng ta
là thành phần nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ Bí tích Rửa tội, có cội nguồn
là Thiên Chúa Cha, có Thủ lănh là Đức Giêsu Kitô, có địa vị
là phẩm giá và sự tự do của con cái Thiên Chúa, có Lề luật là giới răn
mới của t́nh yêu, có sứ vụ là trở thành muối và ánh sáng của thế giới, có
cùng đích là Nước Thiên Chúa, đă được khởi đầu trên trần thế.
155. Dân
Thiên Chúa thông dự như thế nào vào ba phận vụ của Đức Kitô là Tư tế, là Tiên
tri và là Vương đế ?
783-786
Dân Thiên Chúa được dự
phần vào phận vụ Tư tế của Đức Kitô, v́ các người Kitô hữu được Chúa
Thánh Thần thánh hiến để dâng các hy lễ thiêng liêng. Họ được tham dự vào phận
vụ Tiên tri v́, nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, họ gắn bó cách dứt
khoát với đức tin, đào sâu để hiểu biết đức tin và trở thành chứng nhân cho đức
tin. Họ được tham dự vào phận vụ là Vương đế qua việc phục vụ, noi gương
Đức Kitô Giêsu, Vua vũ trụ, Đấng tự trở thành tôi tớ cho mọi người, nhất là cho
những người nghèo túng và đau khổ.
156. Hội thánh là Thân
thể của Đức Kitô theo cách nào ?
787-791
805-806
Nhờ Chúa Thánh Thần, Đức
Kitô, đă chết và đă phục sinh, kết hợp các tín hữu với chính Người một cách mật
thiết. Như thế những ai tin vào Đức Kitô, v́ được kết hợp chặt chẽ với Người,
nhất là trong Bí tích Thánh Thể, th́ cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành
một thân thể duy nhất là Hội thánh, hợp nhất với nhau trong sự đa dạng của các
chi thể và các phận vụ.
157. Ai là đầu của thân
thể này ?
792-795
807
Đức Kitô là “Đầu của thân
thể, nghĩa là của Hội thánh” (Cl 1,18). Hội thánh sống nhờ Người, trong Người và
cho Người. Đức Kitô và Hội thánh tạo thành “Đức Kitô toàn thể” (thánh
Augustinô). “Có thể nói được là, Đầu và các chi thể làm nên cùng một con người
huyền nhiệm” (Thánh Tôma Aquinô).
158. Tại sao Hội thánh
được gọi là Hôn thê của Đức Kitô ?
796
808
Hội thánh được gọi là Hôn
thê của Đức Kitô bởi v́ chính Chúa đă tự xưng là “Hôn phu” (Mc 2,19), Đấng đă
yêu thương Hội thánh, đă kết ước với Hội thánh bằng một Giao ước vĩnh cửu.
Người đă phó nộp ḿnh v́ Hội thánh, để thanh tẩy Hội thánh bằng Máu của Người,
để làm cho Hội thánh “trở nên thánh thiện” (Ep 5,26) và làm cho Hội thánh thành
mẹ của tất cả các con cái của Thiên Chúa. Nếu hai chữ “Thân thể” cho thấy sự hợp
nhất giữa “Đầu” và các chi thể, th́ hai chữ “Hôn thê” làm nổi bật sự phân biệt
giữa đôi bên trong một quan hệ liên vị.
159. Tại sao Hội thánh được gọi là Đền thờ Chúa Thánh Thần
?
797-798
809-810
Bởi v́ Chúa Thánh Thần ngự
trong thân thể là Hội thánh, trong “Đầu” và trong “các chi thể” của Hội thánh;
hơn nữa, Ngài xây dựng Hội thánh trong đức mến, nhờ Lời Chúa, các Bí tích, các
nhân đức và các đặc sủng.
“Linh hồn tương quan với
chi thể thế nào th́ Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với các chi thể của Đức
Kitô và thân thể Người là Hội thánh.”
(Thánh Augustinô).
160.
Đặc sủng là ǵ ?
799-801
Đặc sủng là những ân huệ
đặc biệt của Chúa Thánh Thần được ban tặng cho một số người v́ lợi ích của con
người, v́ những nhu cầu của thế giới và đặc biệt là để xây dựng Hội thánh. Chỉ
có Huấn quyền của Hội thánh mới có thẩm quyền nhận định các đặc sủng.
Hội thánh Duy
nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền
161.
Tại sao Hội thánh có đặc tính duy nhất ?
813-815
866
Hội thánh có đặc tính là
duy nhất, v́ Hội thánh có nguồn gốc và khuôn mẫu là sự duy nhất của một
Thiên Chúa trong Ba Ngôi; có Đấng sáng lập và làm Đầu là Đức Giêsu Kitô, Đấng
qui tụ mọi dân tộc trong sự duy nhất của một thân thể ; có Chúa Thánh Thần như
linh hồn, Đấng hợp nhất tất cả các tín hữu vào sự hiệp thông trong Đức Kitô. Hội
thánh có cùng một đức tin, một đời sống Bí tích, một chuỗi kế nhiệm tông truyền
duy nhất, cùng một niềm hy vọng chung và cùng một đức mến.
162.
Hội thánh duy nhất của Đức Kitô tồn tại ở đâu ?
816
870
Với tính cách là một cộng
đoàn được thiết lập và tổ chức ở trần gian, Hội thánh duy nhất của Đức Kitô tồn
tại (subsistit in) trong Hội thánh Công giáo, được điều hành do vị kế
nhiệm thánh Phêrô và do các Giám mục hiệp thông với ngài. Chỉ nhờ Hội thánh này
người ta mới có thể đạt được cách đầy đủ các phương tiện cứu độ, v́ Chúa đă trao
phó tất cả những ǵ thiện hảo của Giao ước Mới cho tập thể tông đồ duy nhất, có
thánh Phêrô đứng đầu.
163.
Phải nh́n các người Kitô hữu không thuộc công giáo như thế nào ?
817-819
Trong các Giáo hội và các
Cộng đoàn giáo hội , đă tách rời khỏi sự hiệp thông trọn vẹn với Hội thánh Công
giáo, chúng ta cũng gặp được nhiều yếu tố thánh hóa và chân lư. Tất cả các yếu
tố này xuất phát từ Đức Kitô và đều hướng đến sự hợp nhất công giáo. Các thành
viên của các Giáo hội và các cộng đoàn này được hội nhập vào Đức Kitô nhờ Bí
tích Rửa tội; v́ vậy chúng ta nh́n nhận họ như anh em.
164.
Làm thế nào để dấn thân cho sự hợp nhất ?
820-822
866
Ḷng khao khát muốn tái
lập sự hợp nhất giữa tất cả các người Kitô hữu là một hồng ân của Đức Kitô và là
một lời kêu gọi của Chúa Thánh Thần. Khao khát này liên quan đến toàn thể Hội
thánh và được thực hiện bằng việc sám hối tận đáy ḷng, cầu nguyện, nh́n nhận
lẫn nhau là anh em và đối thoại thần học.
165. Hội
thánh có đặc tính là thánh thiện theo nghĩa nào ?
823-829
867
Hội thánh có đặc tính
thánh thiện, v́ Thiên Chúa chí thánh là tác giả của Hội thánh. Đức Kitô đă
tự nộp ḿnh v́ Hội thánh, để thánh hóa Hội thánh và làm cho Hội thánh có khả
năng thánh hóa. Chúa Thánh Thần ban sự sống cho Hội thánh bằng t́nh yêu. Trong
Hội thánh có tất cả các phương tiện cứu độ. Sự thánh thiện là ơn gọi của từng
người trong Hội thánh và là mục đích của mọi hoạt động của Hội thánh. Trong Hội
thánh có Đức Trinh Nữ Maria và rất nhiều vị thánh là gương mẫu và là những đấng
chuyển cầu cho Hội thánh. Sự thánh thiện của Hội thánh là suối nguồn cho sự
thánh hóa các con cái ḿnh, những người đang sống trên trần gian, tất cả đều tự
nhận ḿnh là kẻ tội lỗi và luôn cần sám hối và thanh tẩy.
166.
Tại sao Hội thánh được gọi là công giáo ?
830-831
868
Hội thánh có đặc tính là
công giáo, nghĩa là phổ quát, v́ Đức Kitô hiện diện trong Hội
thánh. “Ở đâu có Đức Kitô Giêsu, ở đó có Hội thánh Công giáo” (Thánh Inhaxiô
Antiôkia). Hội thánh loan báo sự toàn diện và toàn vẹn của đức tin. Hội thánh
ǵn giữ và quản lư tất cả các phương tiện cứu độ. Hội thánh được sai đến với mọi
dân tộc ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa của họ.
167. Giáo hội địa phương
có phải công giáo không ?
832-835
Mỗi Giáo hội địa phương
(nghĩa là một giáo phận hoặc giáo khu) đều là công giáo, được h́nh thành bởi
cộng đoàn các người Kitô hữu, cùng hiệp thông trong đức tin và trong các Bí tích
với Giám mục của họ, là người được tấn phong trong chuổi kế nhiệm tông truyền,
và với Giáo hội Rôma là giáo hội “đứng đầu về mặt đức ái” (thánh Ignatio
Antiôkia).
168. Ai thuộc về Hội thánh
Công giáo ?
836-838
Tất cả mọi người, dưới
nhiều h́nh thức khác nhau, đều thuộc về hay hướng đến sự hợp nhất công giáo của
dân Thiên Chúa. Người hoàn toàn thuộc về Hội thánh Công giáo là người, nhận được
Thánh Thần của Đức Kitô, kết hợp với Hội thánh bằng các dây liên kết là việc
tuyên xưng đức tin, các Bí tích, sự hướng dẫn của giáo phẩm và sự hiệp thông.
Những người đă được Rửa tội nhưng không thực hiện đầy đủ sự hợp nhất công giáo
th́ cũng hiệp thông một cách nào đó, tuy là hiệp thông không trọn vẹn, với Hội
thánh Công giáo.
169. Hội thánh Công giáo
liên hệ với dân Do Thái như thế nào ?
839-840
Hội Thánh Công giáo công
nhận liên hệ của ḿnh với dân Do Thái v́ Thiên Chúa đă tuyển chọn dân này, trước
tất cả mọi dân khác, để đón nhận Lời Ngài. Chính dân Do Thái “được Thiên Chúa
nhận làm con, được Ngài cho thấy vinh quang, ban tặng các Giao ước, lề luật, một
nền phụng tự và các lời hứa; họ là con cháu các tổ phụ, và chính Đức Kitô, xét
theo huyết thống, cũng cùng một ṇi giống với họ” (Rm 9,4-5). Khác với các tôn
giáo khác không thuộc Kitô giáo, đức tin Do Thái đă là lời đáp trả cho Mạc khải
của Thiên Chúa trong Giao Ứơc Cũ.
170. Liên hệ giữa Hội
thánh Công giáo với các tôn giáo ngoài Kitô giáo như thế nào ?
841-845
Trước hết, đó là mối liên
hệ về nguồn gốc và cứu cánh chung của toàn thể nhân loại. Hội thánh Công giáo
nh́n nhận những ǵ tốt lành và chân thật trong các tôn giáo khác đều xuất phát
từ Thiên Chúa. Đó là một tia phản chiếu chân lư của Ngài. Điều này có thể chuẩn
bị cho việc đón nhận Tin Mừng và thúc đẩy đến sự hợp nhất nhân loại trong Hội
thánh của Đức Kitô.
171.Câu khẳng định “Ngoài
Hội thánh không có ơn cứu độ” có nghĩa ǵ ?
846-848
Câu này muốn nói rằng ơn
cứu độ xuất phát từ Đức Kitô-là-Đầu thông qua trung gian là Hội thánh, thân thể
Người. Những ai biết rằng Hội thánh được Đức Kitô thiết lập và cần thiết cho ơn
cứu độ mà không muốn bước vào hay không muốn gắn bó với Hội thánh, th́ sẽ không
được cứu độ. Ngoài ra, nhờ Đức Kitô và Hội thánh Người, những người, không v́
lỗi ḿnh mà không biết Tin Mừng của Đức Kitô và Hội thánh Người, nhưng chân
thành đi t́m Thiên Chúa và dưới ảnh hưởng của ân sủng, cố gắng thực hiện ư Thiên
Chúa qua sự hướng dẫn của lương tâm, vẫn có thể đạt được ơn cứu độ muôn đời.
172. Tại sao Hội thánh
phải loan truyền Tin Mừng cho toàn thế giới ?
849-851
Bởi v́ Đức Kitô đă truyền
cho Hội thánh : “Anh em hăy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh
Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Mệnh lệnh này của Chúa có cội nguồn là
t́nh yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng đă sai phái Con và Thánh Thần Ngài, v́
Ngài “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1 Tm 2,4).
173. Thế nào là Hội thánh
truyền giáo ?
852-856
Được Chúa Thánh Thần hướng
dẫn, suốt ḍng lịch sử, Hội thánh tiếp tục sứ vụ của chính Đức Kitô. V́ vậy, các
người Kitô hữu phải loan báo cho mọi người Tin Mừng đă được Đức Kitô mang đến,
khi bước theo cùng một con đường như Người, tức là sẵn sàng hy sinh, thậm chí
đến chỗ tử đạo.
174. Tại sao Hội thánh có
đặc tính tông truyền ?
857
869
Hội thánh có đặc tính tông
truyền căn cứ vào nguồn gốc của ḿnh, v́ Hội thánh được “xây dựng trên
nền tảng các Tông đồ” (Ep 2,20); căn cứ vào giáo lư là giáo huấn của các
thánh Tông đồ; và căn cứ vào cơ cấu của ḿnh, v́ Hội thánh được xây dựng,
thánh hóa và hướng dẫn cho đến ngày Chúa lại đến, bởi các thánh Tông đồ, nhờ
những vị kế nhiệm các ngài là các Giám mục hiệp thông với vị kế nhiệm thánh
Phêrô.
175. Sứ vụ của các thánh
Tông đồ hệ tại ở đâu ?
858-861
Tông đồ
có nghĩa là người được sai đi. Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến, đă kêu
gọi và tuyển chọn mười hai người trong số các môn đệ và đặt họ làm Tông đồ của
Người, khi làm cho họ thành những chứng nhân cho cuộc Phục sinh của Người và làm
nền tảng cho Hội thánh của Người. Người truyền cho họ phải tiếp tục sứ vụ của
Người, khi Người nói với họ : “Như Chúa Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”
(Ga 20,21), và Người hứa ở với họ cho đến ngày tận thế.
176. Kế nhiệm tông truyền
là ǵ ?
861-865
Kế nhiệm tông truyền là
chuyển giao sứ vụ và quyền hạn của các Tông đồ cho những người kế vị các ngài,
là các Giám mục, qua Bí tích Truyền chức thánh. Chính nhờ việc chuyển giao này
mà Hội thánh vẫn duy tŕ được sự hiệp thông trong đức tin và đời sống với nguồn
gốc của ḿnh, trải qua bao thế kỷ, Hội thánh thực hành việc tông đồ của ḿnh là
làm lan toả Vương quốc của Đức Kitô trên trần gian.
Các người Kitô hữu
: phẩm trật, giáo dân, đời sống thánh hiến
177.
Các tín hữu là ai ?
871-872
Các tín hữu là những người
được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Bí tích Rửa tội, được trở nên thành phần của dân
Thiên Chúa. Trở thành những người được dự phần vào các phận vụ Tư tế, Tiên tri
và Vương đế của Đức Kitô, tùy theo điều kiện riêng của ḿnh, họ được mời gọi
thực thi sứ vụ được Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh. Giữa họ, có một sự b́nh
đẳng thực sự do phẩm giá của họ là con cái Thiên Chúa.
178.
Dân Thiên Chúa được h́nh thành như thế nào ?
873
934
Theo sự xếp đặt của Thiên
Chúa, trong Hội thánh có những thừa tác viên được hiến thánh, đă được
lănh nhận Bí tích Truyền chức thánh và tạo thành phẩm trật của Hội thánh. Những
người khác được gọi là giáo dân. Trong cả hai thành phần này, có những
tín hữu được thánh hiến một cách đặc biệt cho Thiên Chúa qua việc khấn
giữ các lời khuyên Phúc Âm : khiết tịnh trong đời sống độc thân, khó nghèo và
vâng phục.
179.
Tại sao Đức Kitô lại thiết lập phẩm trật trong Hội thánh ?
874-876
935
Đức Kitô đă thiết lập phẩm
trật trong Hội thánh để chăn dắt dân Thiên Chúa nhân danh Người; và v́ thế Người
đă trao ban quyền hành cho họ. Phẩm trật bao gồm các thừa tác viên đă được thánh
hiến : các giám mục, linh mục, phó tế. Nhờ Bí tích Truyền chức thánh, các Giám
mục và linh mục, khi thực thi thừa tác vụ của ḿnh, hoạt động nhân danh và trong
cương vị của Đức Kitô-là-Đầu. Các Phó tế phục vụ dân Chúa trong việc phục vụ
(diakonia) lời Chúa, Phụng vụ và việc bác ái.
180.
Chiều kích tập thể của thừa tác vụ trong Hội thánh được thực hiện như thế
nào?
877
Theo gương nhóm mười hai
Tông đồ, được Đức Kitô tuyển chọn và sai đi chung với nhau, sự kết hợp của các
thành phần phẩm trật trong Hội thánh là để phục vụ sự hiệp thông của tất cả các
tín hữu. Mỗi Giám mục thực thi thừa tác vụ của ḿnh như thành viên của Giám mục
đoàn, trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, dự phần với ngài vào việc chăm lo
cho Hội thánh phổ quát. Các linh mục thực thi thừa tác vụ của ḿnh trong linh
mục đoàn của Hội thánh địa phương trong sự hiệp thông với Giám mục và dưới sự
hướng dẫn của ngài.
181.
Tại sao thừa tác vụ trong Hội thánh cũng có đặc tính cá nhân ?
878-879
Thừa tác vụ trong Hội
thánh cũng có đặc tính cá nhân, bởi v́, nhờ hiệu năng của Bí tích Truyền chức
thánh, mỗi người đều chịu trách nhiệm trước Đức Kitô, Đấng đă kêu gọi họ một
cách cá nhân khi trao phó cho họ một sứ vụ.
182.
Sứ vụ của Đức Giáo hoàng là ǵ ?
881-882
936-937
Đức Giáo hoàng, vừa là
Giám mục Rôma vừa là vị kế nhiệm Thánh Phêrô, là nguyên lư và nền tảng trường
tồn và hữu h́nh cho sự hợp nhất của Hội thánh. Ngài là vị đại diện Đức Kitô,
đứng đầu Giám mục đoàn và là mục tử của toàn thể Hội thánh. V́ do Chúa thiết
lập, ngài có quyền trọn vẹn, tối cao, trực tiếp và phổ quát trên Hội thánh.
183.
Nhiệm vụ của Giám mục đoàn là ǵ ?
883-885
Giám mục đoàn, hiệp thông
với Đức Giáo hoàng và luôn phải có ngài, cũng thực thi trên Hội thánh một quyền
tối cao và trọn vẹn.
184.
Các Giám mục thực thi sứ vụ giảng dạy của ḿnh như thế nào ?
888-890
939
Trong sự hiệp thông với
Đức Giáo hoàng, các Giám mục có bổn phận loan báo Tin Mừng cho mọi người cách
trung thành và có thẩm quyền. Với thẩm quyền của Đức Kitô, các ngài là chứng
nhân đích thực của đức tin tông truyền. Nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, Dân
Thiên Chúa, được Huấn quyền sống động của Hội thánh hướng dẫn, gắn bó cách kiên
vững với đức tin.
185.
Sự bất khả ngộ của Huấn quyền thể hiện lúc nào ?
891
Sự bất khả ngộ thể hiện
khi Đức Giáo hoàng, căn cứ vào thẩm quyền là Mục tử tối cao của Hội thánh, hay
Giám mục đoàn trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, nhất là khi các ngài họp
Công đồng chung, công bố một giáo lư có liên quan đến đức tin hay luân lư bằng
một hành động dứt khoát, hoặc khi Đức Giáo hoàng và các Giám mục, trong Huấn
quyền thông thường của các ngài, đồng thanh tuyên bố một tín điều dứt khoát. Tất
cả các tín hữu đều phải gắn bó với giáo huấn này trong sự vâng phục đức tin.
186.
Các Giám mục thực thi sứ vụ thánh hóa như thế nào ?
893
Các Giám mục thánh hóa Hội
thánh khi trao ban ân sủng của Đức Kitô bằng việc rao giảng và cử hành các Bí
tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể. Các ngài cũng thánh hóa Hội thánh bằng lời
cầu nguyện, gương mẫu và việc làm của ḿnh.
187.
Các Giám mục thực thi sứ vụ cai quản như thế nào ?
894-896
Mỗi Giám mục, với tư cách
là thành viên của Giám mục đoàn, phải quan tâm cách tập thể đối với mọi Giáo hội
địa phương và Hội thánh toàn cầu, trong sự hợp nhất với các Giám mục khác kết
hợp với Đức Giáo hoàng. Giám mục, được ủy thác một Giáo hội địa phương, sẽ điều
khiển Giáo hội ấy với thẩm quyền do chức thánh, riêng biệt, thông thường và trực
tiếp, nhân danh Đức Kitô, vị Mục tử Nhân lành, trong sự hiệp thông với toàn thể
Hội thánh và dưới sự dẫn dắt của Đấng kế nhiệm thánh Phêrô.
188.
Ơn gọi của người tín hữu giáo dân là ǵ ?
897-900
940
Người tín hữu giáo dân có
ơn gọi riêng để t́m kiếm Nước Thiên Chúa, bằng việc soi sáng và sắp xếp các thực
tại trần gian theo ư muốn của Thiên Chúa. Làm như vậy là họ thực hiện ơn gọi nên
thánh và hoạt động tông đồ, một ơn gọi được trao ban cho mọi người đă lănh Bí
tích Rửa tội.
189.
Người tín hữu giáo dân tham gia vào sứ vụ tư tế của Đức Kitô như thế nào
?
901-903
Họ tham gia vào sứ vụ tư
tế này, khi dâng hiến – như hy lễ thiêng liêng “dâng lên Thiên Chúa nhờ Đức
Giêsu Kitô” ( 1 Pr 2,5), nhất là trong Thánh lễ – cuộc sống riêng của họ, cùng
với tất cả các hoạt động, lời cầu nguyện và dấn thân truyền giáo, cuộc sống gia
đ́nh và lao động hằng ngày, những khó khăn trong cuộc sống mà họ chịu đựng cách
kiên nhẫn và những lúc thư giăn thân xác và tinh thần. Bằng cách đó, người giáo
dân, dấn thân cho Đức Kitô và được Chúa Thánh Thần thánh hiến, sẽ dâng lên Thiên
Chúa cả thế giới.
190.
Họ tham dự vào sứ vụ tiên tri của Đức Kitô như thế nào ?
904-907
942
Họ tham dự vào sứ vụ tiên
tri này của Đức Kitô khi luôn đón nhận trong đức tin Lời của Đức Kitô và loan
báo Lời đó cho thế giới bằng chứng từ đời sống của họ, cũng như qua lời nói,
hoạt động rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lư. Việc rao giảng Tin Mừng như vậy đạt
được hiệu quả đặc biệt v́ việc này được thực hiện trong các hoàn cảnh thông
thường nơi trần thế.
191.
Họ tham dự vào sứ vụ Vương đế của Đức Kitô như thế nào ?
908-913
943
Người giáo dân tham dự vào
sứ vụ Vương đế của Đức Kitô khi đón nhận từ nơi Người quyền năng chiến thắng tội
lỗi, nơi chính họ và trong thế giới, qua việc từ bỏ bản thân và sống đời sống
thánh thiện. Họ thực hành nhiều tác vụ khác nhau để phục vụ cộng đoàn và ghi dấu
ấn trên các hoạt động trần thế của con người và các cơ chế xă hội bằng giá trị
luân lư.
192.
Đời sống thánh hiến là ǵ ?
914-916
944
Là một bậc sống được Hội
thánh công nhận. Đó là lời tự nguyện đáp trả tiếng gọi đặc biệt của Đức Kitô,
qua đó những người được thánh hiến hoàn toàn tự hiến cho Thiên Chúa và hướng tới
sự hoàn hảo của đức ái dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Đặc tính của sự thánh
hiến là việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.
193.
Đời sống thánh hiến đóng góp ǵ cho sứ vụ của Hội thánh ?
931-933
945
Đời sống thánh hiến dự
phần vào sứ vụ của Hội thánh, bằng việc tự hiến trọn vẹn cho Đức Kitô và các anh
em của Người, khi làm chứng cho niềm hy vọng về Nước Trời.
TÔI TIN CÁC THÁNH THÔNG CÔNG
194.
“Các thánh thông công” có ư nghĩa ǵ ?
946-953
960
Câu nói “các thánh thông
công” trước hết nói lên sự tham dự chung của tất cả các thành phần Hội thánh vào
những thực tại thánh (sancta) : đức tin, các Bí tích, đặc biệt là Bí
tích Thánh Thể, các đặc sủng và những ân huệ thiêng liêng khác. Cội nguồn của sự
hiệp thông là đức ái “không t́m tư lợi” (1 Cr 13,5), nhưng thúc đẩy các tín hữu
đặt “mọi sự là của chung” (Cv 4,32), kể cả của cải vật chất của họ, nhằm phục vụ
những người nghèo khổ hơn.
195.
Câu nói “các thánh thông công” c̣n mang ư nghĩa nào khác nữa ?
954-959
961-962
Câu này c̣n nói lên sự
hiệp thông giữa những người thánh (sancti), nghĩa là những ai, nhờ ân
sủng, được kết hợp với Đức Kitô chịu chết và sống lại. Một số c̣n lữ hành trên
trần gian; một số khác, đă rời bỏ đời này, hiện đang được thanh luyện, và cũng
được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta; sau hết, một số khác nữa, đă
được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu cho chúng ta. Tất cả cùng
nhau làm thành một gia đ́nh duy nhất trong Đức Kitô, là Hội thánh, để ca ngợi
và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.
Đức Maria : Mẹ Đức
Kitô, Mẹ Hội thánh
196.
Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc là Mẹ Hội thánh theo nghĩa nào ?
963-966
973
Đức Trinh Nữ Maria diễm
phúc là Mẹ Hội thánh trong trật tự ân sủng bởi v́ Mẹ đă sinh ra Chúa Giêsu, Con
Thiên Chúa, là Đầu của Thân Thể Người là Hội thánh. Khi sắp chết trên thánh giá,
Chúa Giêsu đă trối Đức Maria làm mẹ của môn đệ Người bằng những lời này : “Đây
là mẹ của anh” (Ga 19,27).
197.
Đức Maria trợ giúp Hội thánh như thế nào ?
967-970
Sau khi Con ḿnh về trời,
Đức Maria đă giúp đỡ Hội thánh lúc khởi đầu bằng lời cầu nguyện, và cả sau khi
đă được lên trời, Mẹ vẫn tiếp tục chuyển cầu cho con cái ḿnh, vẫn là mẫu gương
cho mọi người về đức tin và đức ái, tạo ảnh hưởng cứu độ trên họ, ảnh hưởng này
xuất phát từ sự dư đầy các công nghiệp của Đức Kitô. Các tín hữu nh́n Mẹ như
nguyên ảnh và sự tham dự trước vào cuộc phục sinh đang chờ đón họ ; họ kêu cầu
Mẹ dưới các tước hiệu là Trạng sư, Đấng phù trợ, Đấng bảo trợ và Đấng trung
gian.
198.
Đức Trinh Nữ rất thánh được tôn kính như thế nào ?
971
Mẹ được sùng kính cách đặc
biệt, nhưng khác hẳn với việc tôn thờ chỉ dành riêng cho Ba Ngôi cực thánh. Việc
sùng kính đặc biệt này được diễn tả một cách độc đáo trong các ngày lễ phụng vụ
dành kính Mẹ Thiên Chúa cũng như trong các kinh nguyện tôn kính Đức Mẹ, như kinh
Mân Côi, được xem là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng.
199.
Đức
Trinh nữ Maria diễm phúc là h́nh ảnh cánh chung của Hội thánh như thế nào ?
972
974-975
Khi nh́n lên Đức Maria,
hoàn toàn thánh thiện và đă được tôn vinh cả hồn lẫn xác, Hội thánh chiêm ngắm
nơi Mẹ điều Hội thánh được kêu gọi để sống trên trần gian và điều Hội thánh sẽ
trở thành trên quê hương thiên quốc.
“TÔI TIN PHÉP THA TỘI”
200.
Tội lỗi được tha thứ như thế nào ?
976-980
984-985
Bí tích đầu tiên và căn
bản để tha tội là Bí tích Rửa tội. Đối với những tội phạm sau khi lănh nhận Bí
tích Rửa tội, Đức Kitô đă thiết lập Bí tích Ḥa giải hay Thống hối, nhờ đó người
đă được Rửa tội được giao ḥa với Thiên Chúa và với Hội thánh.
201.
Tại sao Hội thánh có quyền tha tội ?
981-983
986-987
Hội thánh có sứ vụ và
quyền năng để tha các tội lỗi, bởi v́ chính Đức Kitô đă trao ban cho Hội thánh
quyền ấy : “Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, th́ người ấy
được tha; anh em cầm giữ ai, th́ người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).
“TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI
NGÀY SAU SỐNG LẠI”
202.
Hai chữ “thân xác” có ư nghĩa ǵ ? Đâu là sự quan trọng của nó ?
990
1015
Hai chữ “thân xác” chỉ con
người trong t́nh trạng yếu đuối và phải chết. “Thân xác là then chốt của ơn cứu
độ” (Tertullien). Thật vậy, chúng ta tin Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên thân xác;
chúng ta tin Ngôi Lời mặc lấy thân xác để cứu chuộc thân xác; chúng ta tin vào
sự sống lại của thân xác, đó là hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc thân xác.
203.
“Xác sống lại” có nghĩa là ǵ ?
990
Điều này muốn nói đến t́nh
trạng vĩnh viễn của con người không phải chỉ là linh hồn thiêng liêng tách biệt
khỏi thân xác, nhưng thân xác phải chết của chúng ta cũng được gọi để một ngày
kia sẽ sống lại.
204.
Đâu
là mối liên hệ giữa cuộc Phục sinh của Đức Kitô với việc sống lại của chúng ta ?
998
1002-1003
Cũng như Đức Kitô đă thực
sự sống lại từ cơi chết và sống măi, cũng vậy, Người sẽ làm cho tất cả chúng ta
sống lại trong ngày sau hết, với một thân xác không c̣n hư nát, “Ai đă làm điều
lành, th́ sẽ sống lại để được sống; ai đă làm điều dữ, th́ sẽ sống lại để bị kết
án” (Ga 5,29).
205.
Khi chúng ta chết, điều ǵ sẽ xảy ra cho linh hồn và thân xác chúng ta ?
992-1004
1016-1018
Khi chết, linh hồn và thân
xác sẽ tách rời nhau, thân xác sẽ bị huỷ hoại, trong khi linh hồn, v́ là bất tử,
sẽ chịu sự phán xét của Thiên Chúa và chờ đợi ngày được kết hợp lại với thân xác
khi thân xác được biến đổi vào ngày Chúa trở lại. Việc t́m hiểu sự sống lại diễn
ra như thế nào vượt quá khả năng của trí tưởng tượng và sự hiểu biết của
chúng ta.
206.
“Chết trong Đức Kitô Giêsu” có nghĩa là ǵ ?
1005-1014
1019
Điều này có nghĩa là chết
trong ân sủng của Chúa, lúc không có tội trọng. Ai tin vào Đức Kitô và theo
gương Người, sẽ có thể biến đổi cái chết của ḿnh thành một hành vi vâng phục và
yêu mến đối với Chúa Cha. “Đây là lời đáng tin cậy : Nếu ta cùng chết với Người,
ta sẽ cùng sống với Người” (2 Tm 2,11).
“TÔI TIN HẰNG SỐNG VẬY”
207.
Đời sống vĩnh cửu là ǵ ?
1020
1051
Đời sống vĩnh cửu là đời
sống bắt đầu ngay sau khi chết. Đời sống này không có kết thúc. Mỗi người, khi
bắt đầu bước vào đời sống vĩnh cửu, sẽ phải nhận một cuộc phán xét riêng do
chính Đức Kitô, vị Thẩm Phán của kẻ sống và kẻ chết; đời sống này sẽ được đóng
ấn trong cuộc phán xét chung.
208.
Phán xét riêng là ǵ ?
1021-1022
1051
Là cuộc phán xét thưởng
phạt tức khắc mà mỗi người, ngay sau khi chết, phải lănh nhận từ Thiên Chúa
trong linh hồn bất tử của ḿnh, liên quan đến đức tin và các việc làm của ḿnh.
Sự phân định thưởng phạt này gồm có việc được vào hưởng hạnh phúc thiên đàng,
tức khắc hoặc sau một cuộc thanh luyện thích hợp, hay là phải chịu phạt muôn đời
trong hỏa ngục.
209. “Thiên đàng” là ǵ ?
1023-1026
1053
“Thiên đàng” là t́nh trạng
hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai
không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được qui tụ quanh Chúa Giêsu
và Đức Maria, các thiên thần và các thánh. Như vậy các ngài tạo thành Hội thánh
thiên quốc, nơi các ngài được chiêm ngắm Thiên Chúa “mặt giáp mặt” ( 1 Cr
13,12); các ngài sống trong sự hiệp thông t́nh yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển
cầu cho chúng ta.
Sự sống thật và theo bản
chất cốt tại điều này : Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần,
đổ tràn hồng ân thiên quốc trên tất cả không trừ ai. Nhờ ḷng nhân hậu của Ngài,
cả chúng ta nữa, chúng ta đă lănh nhận lời hứa không thể mai một là được sống
đời đời” (thánh Cyrillô
thành Giêrusalem).
210. Luyện ngục là ǵ ?
1030-1031
1054
Luyện ngục là t́nh trạng
của những người chết trong t́nh thân với Thiên Chúa, nhưng, dù đă được đảm bảo
ơn cứu độ vĩnh cửu, họ c̣n cần thanh luyện trước khi được hưởng hạnh phúc thiên
đàng.
211. Bằng cách
nào chúng ta có thể giúp đỡ các linh hồn đang được thanh luyện nơi luyện ngục ?
1032
Nhờ sự “các thánh thông
công” các tín hữu c̣n lữ hành trên trần gian, có thể giúp đỡ các linh hồn nơi
luyện ngục, bằng cách dâng lời cầu khẩn, đặc biệt là Thánh lễ, và cả những việc
bố thí, ân xá và những việc hăm ḿnh để cầu cho họ.
212.
Hoả ngục hệ tại điều ǵ ?
1033-1035
1056-1057
Hoả ngục hệ tại án phạt
đời đời dành cho những ai, do sự lựa chọn tự do của ḿnh, chết trong t́nh trạng
có tội trọng. H́nh phạt chính yếu của hỏa ngục là xa cách đời đời khỏi Thiên
Chúa. Chỉ nơi Ngài con người mới có sự sống và hạnh phúc; con người được tạo
dựng là để hưởng những điều ấy và họ luôn khao khát những điều ấy. Đức Kitô diễn
tả thực tại hoả ngục bằng những lời này : “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho
khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” (Mt 25,41).
213.
Thiên Chúa là Đấng nhân hậu vô biên, làm sao Ngài lại để có hỏa ngục ?
1036-1037
Thiên Chúa muốn “cho mọi
người ăn năn hối cải” (2 Pr 3,9), nhưng v́ Ngài đă tạo dựng con người có tự do
và có trách nhiệm, nên Ngài tôn trọng các quyết định của họ. V́ thế, nếu cho đến
lúc chết, con người vẫn c̣n nằm trong tội trọng, từ chối t́nh yêu nhân từ của
Thiên Chúa, th́ chính họ, với sự tự lập hoàn toàn, tự ư loại ḿnh ra khỏi sự
hiệp thông với Thiên Chúa.
214.
Phán xét cuối cùng hệ tại điều ǵ ?
1038-1041
1058-1059
Sự phán xét cuối cùng
(phán xét chung) hệ tại sự phán quyết về cuộc sống hạnh phúc hay án phạt đời
đời, mà Chúa Giêsu, khi Người trở lại như vị Thẩm phán của kẻ sống và kẻ chết,
sẽ tuyên bố cho “những người công chính cũng như kẻ có tội” (Cv 24,15), qui tụ
tất cả trước mặt Người. Sau cuộc phát xét cuối cùng, thân xác sống lại sẽ tham
dự vào sự thưởng phạt mà linh hồn đă lănh nhận trong cuộc phán xét riêng.
215.
Khi nào cuộc phán xét này sẽ xảy ra ?
1040
Cuộc phán xét này sẽ xảy
ra vào ngày tận thế mà chỉ ḿnh Thiên Chúa mới biết được ngày nào giờ nào.
216. “Hy vọng trời
mới đất mới” nghĩa là ǵ ?
1042-1050
1060
Sau cuộc phán xét cuối
cùng, chính vũ tru,ï được giải thoát khỏi nô lệ sự hư nát, sẽ được dự phần vào
vinh quang của Đức Kitô với việc khai mạc “trời mới đất mới” (2 Pr 3,13). Như
thế sự viên măn của Nước Thiên Chúa sẽ đạt đến đích điểm, nghĩa là ư định cứu độ
của Thiên Chúa được hoàn thành vĩnh viễn : “Qui tụ muôn loài trong trời đất dưới
quyền một thủ lănh là Đức Kitô” (Ep 1,10). Khi ấy Thiên Chúa sẽ “có toàn quyền
trên muôn loài” (1 Cr 15,28), trong cuộc sống đời đời.
“AMEN”
217.
Tiếng Amen, kết thúc Kinh Tin Kính, có nghĩa là ǵ ?
1061-1065
Tiếng Do Thái Amen
–cũng được dùng để kết thúc quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh, cũng như một số
lời cầu nguyện của Tân Ước và các lời cầu nguyện phụng vụ của Hội thánh– diễn tả
lời ‘Thưa vâng” đầy tin tưởng và trọn vẹn của chúng ta đối với những ǵ chúng ta
đă tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, chúng ta hoàn toàn phó ḿnh cho Đấng là AMEN
tối hậu (Kh 3,14), tức là Đức Kitô.

Trong
bức tranh này, Chúa Giêsu tiến đến gần các tông đồ đang ngồi ở bàn, và từ người
này sang người khác, Người cho họ rước lễ. Đây là một loại h́nh ảnh cho thấy
ḷng nhiệt thành đối với Bí tích Thánh Thể của Hội thánh trong suốt ḍng lịch
sử.
Thánh tử đạo
Éméritus, vào khoảng đầu thế kỷ thứ bốn, đă nói : “Sine Dominico non possumus -
chúng tôi không thể sống thiếu ngày Chúa nhật -” khi phải chịu đựng một trong
những cuộc bách hại tệ hại nhất chống lại người Kitô hữu, đó là cuộc bách hại
dưới trào hoàng đế Diocletianus vào năm 304 scn. Bị buộc tội đă ban phát Thánh
Thể cho cộng đoàn, ngài chấp nhận không chút lưỡng lự : “Không có Thánh Thể,
chúng tôi không thể sống.” Và một trong số những vị tử đạo thêm vào : “Vâng, tôi
đă đến với cộng đoàn và tôi đă cử hành tiệc thánh của Chúa với anh em tôi, chỉ
v́ tôi là người Kitô hữu” (Hạnh các thánh tử đạo tại Abitina, c.11; 7,16). V́
trung thành với Bí tích Thánh Thể, bốn mươi chín vị chứng nhân của miền bắc Phi
Châu đă bị kết án tử h́nh. Chúa Giêsu của Bí tích Thánh Thể là sự sống đích thực
cho Saturnin và các bạn tử đạo tại Abitina ở Phi Châu. Các ngài muốn chết hơn là
không được lănh nhận lương thực Thánh Thể, bánh của đời sống vĩnh cửu.
Thánh Tôma Aquinô có thói quen vào giữa trưa,
xuống nhà thờ và, với ḷng tin tưởng và phó thác, ngài áp trán vào Nhà Tạm để
chuyện tṛ thân mật với Chúa Giêsu Thánh Thể. Vị thần học gia vĩ đại của thời
Trung Cổ được nổi danh v́ đă sáng tác các bản văn phụng vụ cho đại lễ Ḿnh Thánh
Chúa (Corpus Domini) trong đó, ngài diễn tả đầy đủ sự sùng kính sâu xa Bí
tích Thánh Thể.
Thánh thi ca tụng (Verbum supernum prodiens)
là một bài tổng hợp linh đạo Bí tích Thánh Thể của Kitô giáo :
Trước khi nộp ḿnh chịu chết, v́ một người môn
đệ của ḿnh phản bội,
(Chúa Giêsu) tự ban ḿnh cho các môn đệ làm
lương thực sự sống.
Người ban cho họ dưới hai h́nh dạng, Thịt và Máu
của Người;
Để qua bản thể hai h́nh dạng này, Người nuôi
sống trọn loài người.
Khi sinh ra, Người tự hiến ḿnh là bạn đồng hành
Khi ngồi cùng bàn với họ, Người tự hiến như
lương thực,
Khi chịu chết, Người tự hiến như phần thưởng.
Thánh Tôma
Aquinô gọi Bí tích Thánh Thể là “chóp đỉnh và sự
viên măn của cả đời sống tinh thần,” làm nổi bật ư thức đức tin của Hội thánh
tin tưởng vào Bí tích Thánh Thể, vào sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta
và là lương thực cần thiết cho đời sống tinh thần. Bí tích Thánh Thể tạo thành
sợi chỉ đỏ, khởi đi từ Bàn Tiệc Ly, nối kết mọi thế kỷ lịch sử của Hội thánh cho
đến chúng ta ngày hôm nay. Các lời truyền phép – “Này là Minh Thầy” và “Này là
Máu Thầy” – được nói lên, măi măi và ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các trại tập
trung, trong các nhà tù c̣n tồn tại đến ngày nay. Chính trên chân trời Thánh
Thể mà Hội thánh đặt nền tảng cho đời sống, sự hiệp thông và sứ vụ của ḿnh.
JOOS VAN WASSENHOVEN,
Chúa Giêsu ban Ḿnh Thánh cho các Tông đồ, Pḥng trưng bày họa phẩm quốc gia
vùng Marches, Urbino.
PHẦN II
CỬ HÀNH MẦU
NHIỆM KITÔ GIÁO
ĐOẠN THỨ NHẤT
NHIỆM CỤC BÍ TÍCH

Hy tế thập giá là nguồn mạch cho nhiệm cục bí
tích của Hội thánh. Trong ảnh, Đức Maria, tượng trưng cho Hội thánh, đón nhận từ
tay trái ḿnh máu và nước, biểu tượng các Bí tích c?a H?i thánh, đổ ra từ cạnh
sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu : “Khi đến gần Chúa Giêsu và thấy Người đă
chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào
cạnh sườn Người. Tức th́, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,33-34).
Thánh Augustinô chú giải : “Đức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta, đang khi chịu đau khổ, đă dâng hiến v́ chúng ta điều mà Người đă nhận
từ chúng ta khi sinh ra, và măi măi trở nên vị Thượng tế vĩ đại. Người ra lệnh
cho chúng ta dâng hy lễ mà anh em thấy, đó chính là Ḿnh và Máu Người. Thật vậy,
thân xác Người, bị lưỡi đ̣ng đâm thâu qua, tuôn chảy nước và máu, với nước và
máu này Người tha thứ tội lỗi chúng ta. Khi anh em nhớ lại ân sủng này, th́ ơn
cứu độ lại hoạt động (v́ chính Thiên Chúa đă làm điều này nơi anh em), run rẩy
và sợ sệt, anh em hăy đến gần để chia sẻ từ bàn thánh này. Hăy nhận ra trong
bánh này là chính thân xác mà anh em đă treo trên thập giá, và trong chén này là
chính máu chảy ra từ cạnh sườn Người. Các hy lễ xa xưa của dân Chúa, trong sự đa
dạng của chúng, chỉ tiên báo hy lễ duy nhất sẽ đến. Và Đức Kitô v?a là con
chiên, v́ sự vô tội của tâm hồn thanh sạch Người, v?a là con dê, v́ xác thịt
Người giống xác thịt của kẻ tội lỗi. Tất cả những ǵ được tiên báo bằng nhiều
cách khác nhau trong các hy lễ của Cựu Ước đều hướng về hy lễ được mạc khải
trong Tân Ước.
Hăy nhận lấy và ăn Thân ḿnh Đức Kitô, v́ ngay
lúc này anh em đă trở nên chi thể của Đức Kitô, trong Thân Thể của Đức Kitô; hăy
lănh nhận và uống Máu Đức Kitô. Để không phải tách rời nhau, hăy ăn điều nối kết
anh em lại; để không tự đánh giá thấp chính ḿnh, hăy uống giá chu?c của anh em.
Mỗi khi anh em ăn và uống các thứ ấy, chúng biến đổi nên anh em, cũng thế, nếu
như trong đời sống, anh em sống vâng phục và đạo đức, anh em biến đổi nên thân
thể Đức Kitô. Thật vậy, khi gần đến cuộc khổ nạn, khi cử hành lễ Vượt qua với
các môn đệ, Người cầm lấy bánh, tạ ơn mà nói : “Này là Ḿnh Thầy sẽ bị nộp v́
anh em.” Cùng một thể thức ấy, sau khi chúc lành, Người trao chén, mà nói : “Đây
là Máu Thầy, máu của Giao ước mới, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”. Điều
ấy, anh em đă đọc và đă nghe trong Phúc Âm, dù vậy, anh em không biết rằng Bí
tích Thánh Thể là chính Chúa Con; nhưng ngay bây giờ, với trái tim đă được
thanh tẩy trong một lương tâm không t́ vết, và với thân xác được rửa sạch trong
nước tinh tuyền, anh em hăy đến gần Người và anh em sẽ được chiếu sáng và sẽ
không c̣n xấu hổ nữa” (Bài giảng 228B).
Nhà nguyện Redemptoris Mater, Tranh
ghép đá của bức tường tŕnh bày mầu nhiệm Nhập
Thể,
Vatican.
218. Phụng vụ là ǵ ?
1066-1070
Phụng vụ là việc
cử hành mầu nhiệm Đức Kitô, đặc biệt là cử hành Mầu nhiệm Vượt qua của Người.
Trong Phụng vụ, qua trung gian việc thực thi phận vụ tư tế của Đức Giêsu Kitô,
sự thánh hóa con người được biểu lộ và thực hiện qua các dấu chỉ. Thân thể nhiệm
mầu của Đức Kitô, nghĩa là Đầu và các chi thể, thực thi việc thờ phượng công
khai dành cho Thiên Chúa.
219. Phụng vụ có
vị trí nào trong đời sống Hội thánh ?
1071-1075
Là
hành động tuyệt đối thánh thiêng, Phụng vụ là chóp đỉnh mà mọi hoạt động của Hội
thánh đều hướng tới, đồng thời là nguồn mạch phát sinh mọi năng lực của đời sống
Hội thánh. Qua Phụng vụ, Đức Kitô tiếp tục công tŕnh cứu chuộc chúng ta trong
Hội thánh, với Hội thánh và nhờ Hội thánh của Người.
220. Nhiệm cục bí tích cốt tại điều ǵ ?
1076
Nhiệm cục bí tích cốt tại việc thông chuyển các hiệu quả ơn cứu
chuộc của Đức Kitô qua việc cử hành các Bí tích của Hội thánh, đặc biệt là Bí
tích Thánh Thể, “cho tới khi Chúa lại đến” (1 Cr 11, 26).
CHƯƠNG MỘT
MẦU NHIỆM VƯỢT QUA TRONG ĐỜI SỐNG CỦA HỘI THÁNH
PHỤNG VỤ – CÔNG TR̀NH CỦA THIÊN CHÚA BA NGÔI
221. Chúa Cha là nguồn mạch và cùng đích của
Phụng vụ theo nghĩa nào?
1077-1083
1110
Trong Phụng vụ, Chúa Cha đổ tràn các phúc lành của Ngài cho chúng ta trong Người
Con nhập thể, đă chết và đă sống lại v́ chúng ta, và Ngài tuôn đổ Chúa Thánh
Thần vào ḷng chúng ta. Đồng thời Hội thánh chúc tụng Chúa Cha qua việc tôn thờ,
ca tụng, tạ ơn, và cầu xin Ngài ban hồng ân là Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
222. Công tŕnh của Đức Kitô trong Phụng vụ là
ǵ ?
1084-1090
Trong Phụng vụ Hội thánh, Đức Kitô biểu lộ và hoàn thành mầu nhiệm Vượt qua của
Người. Khi trao ban Thánh Thần cho các Tông đồ, Người trao ban cho họ và những
người kế nhiệm họ quyền thực hiện công tŕnh cứu độ qua hy tế Thánh Thể và qua
các Bí tích, nơi chính Người hoạt động để trao ban ân sủng của Người cho các tín
hữu trong mọi thời và trên toàn thế giới.
223. Chúa Thánh Thần hoạt động như thế nào trong
Phụng vụ của Hội thánh ?
1091-1109
1112
Trong Phụng vụ, Chúa Thánh Thần hoạt động cách chặt chẽ nhất với Hội thánh. Chúa
Thánh Thần chuẩn bị cho Hội thánh gặp gỡ Chúa của ḿnh. Ngài nhắc nhớ và làm tỏ
hiện Đức Kitô cho đức tin của cộng đoàn. Ngài làm cho hiện diện và hiện tại hóa
mầu nhiệm của Đức Kitô; Ngài kết hợp Hội thánh vào đời sống và sứ vụ của Đức
Kitô, làm cho hồng ân hiệp thông được sinh hoa kết quả nơi Hội thánh.
MẦU NHIỆM VƯỢT QUA TRONG CÁC BÍ TÍCH CỦA HỘI
THÁNH
224. Các Bí tích là ǵ ? Đó là những Bí tích nào
?
1113-1131
Các Bí tích là những dấu chỉ khả giác và hữu hiệu của ân sủng, do Đức Kitô
thiết lập và ủy thác cho Hội thánh; qua các Bí tích, sự sống thần linh được trao
ban cho chúng ta. Có bảy Bí tích : Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể, Thống hối, Xức
dầu bệnh nhân, Truyền chức thánh và Hôn phối.
225. Đâu là mối liên hệ giữa các Bí tích với
Đức Kitô ?
1114-1116
Các mầu nhiệm trong đời sống Đức Kitô là nền tảng cho những ǵ mà ngày hôm nay,
qua các thừa tác viên của Hội thánh, Đức Kitô trao ban trong các Bí tích.
“Điều hữu h́nh nơi Đấng cứu độ chúng ta được
chuyển vào trong các Bí tích ” (thánh
Lêo Cả).
226. Đâu là sự liên kết giữa các Bí tích với
Hội thánh ?
1117-1119
Đức Kitô đă ủy thác các Bí tích cho Hội thánh của Người. Các Bí tích này là “của
Hội thánh” theo hai nghĩa : các Bí tích là “do Hội thánh,” v́ các Bí tích là
hoạt động của Hội thánh, (mà Hội Thánh) là Bí tích của hoạt động Đức Kitô; các
Bí tích là “cho Hội thánh,” theo nghĩa là các Bí tích xây dựng Hội thánh.
227. Ấn tín Bí tích là ǵ ?
1121
Là một dấu ấn thiêng liêng được thông ban trong các Bí tích Rửa tội, Thêm
sức và Truyền chức. Ấn tín này là lời hứa và bảo đảm cho sự che chở của Thiên
Chúa. Nhờ ấn tín, người Kitô hữu trở nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Kitô; họ
được tham dự vào chức tư tế của Người theo nhiều cách. Họ là thành phần trong
Hội thánh theo những bậc sống và phận vụ khác nhau; như thế, ơn gọi của họ là
phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ Hội thánh. V́ ấn tín không thể xóa đi được, nên
ba Bí tích trao ban ấn tín, chỉ được nhận một lần trong đời.
228.
Đâu là mối liên hệ giữa các Bí tích với đức tin ?
1122-1126
1133
Không những các Bí tích giả thiết phải có đức tin, mà các Bí tích c̣n nuôi
dưỡng, củng cố và diễn tả đức tin, bằng lời đọc và những nghi thức. Qua việc cử
hành các Bí tích, Hội thánh tuyên xưng đức tin tông truyền. Từ đó có câu thành
ngữ cổ “lex orandi, lex credendi”, điều này muốn nói : Hội thánh
tin như Hội thánh cầu nguyện.
229.
Tại sao các Bí tích hữu
hiệu ?
1127-1128
1131
Các Bí tích hữu hiệu “ex opere operato” (do chính hành động được hoàn
tất). Thực vậy, chính Đức Kitô hoạt động trong các Bí tích và thông ban ân sủng
mà các Bí tích biểu lộ, không lệ thuộc vào sự thánh thiện bản thân của thừa tác
viên; tuy nhiên, các hoa trái của Bí tích cũng tùy thuộc vào sự chuẩn bị nội tâm
của người lănh nhận.
230.
Tại sao các Bí tích cần
thiết cho ơn cứu độ ?
1129
Mặc dù không phải tất cả các Bí tích đều được ban cho từng người Kitô hữu, các
Bí tích đều cần thiết cho những ai tin vào Đức Kitô, bởi v́ chúng trao ban các
ân sủng Bí tích, ơn tha thứ tội lỗi, ơn được làm nghĩa tử của Thiên Chúa, ơn nên
đồng h́nh đồng dạng với Đức Kitô và ơn được thuộc về Hội thánh. Chúa Thánh Thần
chữa lành và biến đổi những ai lănh nhận các Bí tích.
231.
Ân sủng Bí tích là ǵ ?
1129; 1131
1134; 2003
Ân sủng Bí tích là ân sủng của Chúa Thánh Thần, được Đức Kitô trao ban, mỗi Bí
tích theo một cách. Ân sủng này giúp người tín hữu trên bước đường nên thánh, và
cũng giúp Hội thánh tăng trưởng trong đức ái và trong chứng từ của ḿnh.
232.
Đâu là mối liên hệ giữa các Bí tích với đời sống vĩnh cửu ?
1130
Trong các Bí tích, Hội thánh đă được tham dự trước vào đời sống vĩnh cửu, đang
khi “chờ đợi ngày hồng phúc, ngày Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng
cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2, 13).
CHƯƠNG HAI
CỬ HÀNH MẦU NHIỆM VƯỢT QUA
CỬ HÀNH PHỤNG VỤ CỦA
HỘI THÁNH
Ai cử hành ?
233.
Ai hoạt động trong Phụng vụ ?
1135-1137
1187
Chính “Đức Kitô toàn thể” (Christus Totus), gồm Đầu và Thân thể, hoạt
động trong Phụng vụ. Với tư cách là vị Thượng tế, Đức Kitô cử hành cùng với Thân
thể Người là Hội thánh trên trời và Hội thánh ở trần gian.
234.
Ai cử hành Phụng vụ trên trời ?
1138-1139
Phụng vụ trên trời được cử hành do các thiên thần, các thánh của Cựu Ước và Tân
Ước, đặc biệt là Mẹ Thiên Chúa, các thánh Tông đồ, các thánh tử đạo và “một đoàn
người thật đông” không tài nào đếm nổi, “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và
mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9). Khi cử hành mầu nhiệm cứu độ trong các Bí tích, chúng ta
được dự phần vào Phụng vụ vĩnh cửu này.
235.
Hội thánh ở trần gian cử hành Phụng vụ như thế nào ?
1140-1144
1188
Hội thánh ở trần gian cử hành Phụng vụ với tư cách là dân tư tế, trong đó mỗi
người hoạt động tùy theo phận vụ riêng của ḿnh, trong sự hợp nhất của Chúa
Thánh Thần. Các người đă lănh nhận Bí tích Rửa tội hiến dâng chính ḿnh trong hy
lễ thiêng liêng, các thừa tác viên có chức thánh cử hành theo thánh chức mà họ
đă lănh nhận để phục vụ tất cả các chi thể của Hội thánh; các Giám mục và linh
mục hoạt động trong cương vị Đức Kitô, là Thủ lănh.
Cử hành thế nào ?
236.
Phụng vụ được cử hành thế nào ?
1145
Việc cử hành Phụng vụ được kết thành bằng các dấu chỉ và biểu tượng. Ư nghĩa của
những dấu chỉ và biểu tượng này được bắt nguồn trong công tŕnh tạo dựng và
trong các nền văn hóa nhân loại, được xác định trong các biến cố của Cựu Ước và
được hoàn tất trọn vẹn trong Con Người của Đức Kitô và trong các hoạt động của
Người.
237.
Các dấu chỉ Bí tích bắt
nguồn từ đâu ?
1146-1152
1189
Một số dấu chỉ bắt nguồn từ công tŕnh tạo dựng (ánh sáng, nước, lửa, bánh,
rượu, dầu); một số khác từ đời sống xă hội (tẩy rửa, xức dầu, bẻ bánh); một số
khác từ lịch sử cứu độ thời Cựu Ước (các nghi thức Vượt qua, các hy lễ, việc đặt
tay, việc thánh hiến). Những dấu chỉ này, có một số được qui định và bất biến,
đă được Đức Kitô sử dụng và trở thành những phương tiện chuyển thông hoạt động
cứu độ và thánh hóa của Người.
238.
Đâu là mối liên hệ giữa cử chỉ và lời nói trong việc cử hành Bí tích ?
1153-1155
1190
Trong việc cử hành Bí tích, cử chỉ và lời nói liên hệ với nhau chặt chẽ. Thật
vậy, dù các cử chỉ tượng trưng tự chúng đă là một thứ ngôn ngữ, nhưng vẫn cần có
các lời thuộc nghi thức kèm theo và làm cho chúng sinh động. Trong Phụng vụ, lời
đọc và cử chỉ không thể tách rời nhau v́ chúng vừa là dấu chỉ vừa là giáo huấn;
chúng cũng không thể tách rời nhau v́ chúng thực hiện điều chúng biểu thị.
239.
Bài ca và âm nhạc có vai tṛ trong việc cử hành Phụng vụ theo những tiêu
chuẩn nào ?
1156-1158
1191
Bài
ca và âm nhạc liên kết chặt chẽ với hành vi Phụng vụ. V́ vậy, phải tôn trọng các
tiêu chuẩn sau đây : các bản văn phải phù hợp với giáo lư công giáo, ưu tiên rút
từ Thánh Kinh và các nguồn Phụng vụ; vẻ đẹp diễn cảm của lời cầu nguyện; phẩm
chất âm nhạc; sự tham gia của cộng đoàn; sự phong phú về văn hóa của dân Thiên
Chúa; đặc điểm thánh thiêng và trang trọng của việc cử hành. “Hát là cầu
nguyện hai lần” (thánh Augustinô).
240.
Mục đích của các ảnh tượng thánh là ǵ ?
1159-1161
1192
Ảnh tượng Đức Kitô là ảnh tượng phụng vụ cách tuyệt hảo; các ảnh tượng thánh
khác tŕnh bày Đức Trinh Nữ và các thánh, biểu lộ Đức Kitô được tôn vinh nơi các
ngài. Các ảnh tượng này công bố chính sứ điệp Tin Mừng mà Thánh Kinh chuyển đạt
bằng lời. Các ảnh tượng thánh góp phần khơi dậy và nuôi dưỡng đức tin của các
tín hữu.
Phụng vụ được cử hành khi nào ?
241.
Trung tâm của thời gian Phụng vụ là ǵ ?
1163-1167
1193
Trung tâm của thời gian Phụng vụ là ngày Chúa Nhật, nền tảng và cốt lơi của cả
năm Phụng vụ. Năm Phụng vụ có chóp đỉnh là lễ Phục sinh, ngày “lễ của các ngày
lễ.”
242.
Ư nghĩa của năm Phụng vụ là ǵ ?
1168-1173
1194-1195
Trong năm Phụng vụ, Hội thánh cử hành toàn thể Mầu nhiệm Đức Kitô, từ lúc Người
nhập thể cho đến ngày Người lại đến trong vinh quang. Trong một số ngày, Hội
thánh tôn kính Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa, với một ḷng tŕu
mến đặc biệt; Hội thánh cũng kính nhớ các thánh là những người đă sống cho Đức
Kitô, đă chịu đau khổ với Người và hiện đang ở với Người trong vinh quang.
243.
Các Giờ kinh Phụng vụ là ǵ ?
1174-1178
1196
Các Giờ kinh Phụng vụ – Kinh nguyện công khai và thường xuyên của Hội thánh – là
lời cầu nguyện của Đức Kitô cùng với Thân Thể Người. Nhờ Các Giờ kinh Phụng vụ,
Mầu nhiệm của Đức Kitô, mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ, thánh hóa và làm
thay h́nh đổi dạng thời gian của mỗi ngày. Các Giờ kinh Phụng vụ được kết thành
chủ yếu từ các Thánh Vịnh, các bản văn khác của Thánh Kinh, cũng như những bài
đọc của các Giáo phụ và các tôn sư linh đạo.
Phụng vụ được cử hành ở đâu ?
244.
Hội thánh có cần những nơi chốn để cử hành Phụng vụ không ?
1197-1198
Việc thờ phượng “trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4,24) của Giao ước Mới không bị
lệ thuộc vào bất cứ nơi nào đặc biệt, v́ Đức Kitô là Đền Thờ đích thực của Thiên
Chúa; nhờ Người, các người Kitô hữu và toàn thể Hội thánh, dưới tác động của
Chúa Thánh Thần, cũng trở thành đền thờ của Thiên Chúa hằng sống. Tuy nhiên, Dân
Thiên Chúa, trong hoàn cảnh trần thế, cần đến những nơi chốn để cộng đoàn có thể
qui tụ cử hành Phụng vụÏ.
245. Các “thánh đường” là ǵ ?
1198-1999
Đó là những ngôi nhà của Thiên Chúa, biểu tượng của Hội thánh đang sống tại đó
cũng như biểu trưng nơi cư ngụ thiên quốc. Đó là những nơi cầu nguyện trong đó
Hội thánh cử hành đặc biệt là Thánh lễ và tôn thờ Đức Kitô thực sự hiện diện
trong nhà tạm.
246. Những nơi nào là ưu tiên bên trong các
thánh đường ?
1182-1186
Những nơi ưu tiên là : bàn thờ, nhà tạm, nơi cất giữ Dầu thánh (myron), ngai
Giám mục (cathedra) hay linh mục, giảng đài, giếng rửa tội, ṭa giải tội.
SỰ ĐA DẠNG CỦA PHỤNG
VỤ – SỰ DUY NHẤT CỦA MẦU NHIỆM
247. Tại sao mầu nhiệm duy nhất của
Đức Kitô lại được cử hành theo nhiều truyền thống Phụng vụ khác nhau ?
1200-1204
1207-1209
Mầu nhiệm của Đức Kitô phong phú khôn lường nên không một truyền thống Phụng vụ
nào diễn tả trọn vẹn được. V́ vậy, ngay từ ban đầu, sự phong phú này đă được thể
hiện nơi các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau, qua những cách diễn tả đa
dạng và bổ túc cho nhau cách kỳ diệu.
248. Có tiêu chuẩn nào bảo đảm cho tính duy
nhất trong sự đa dạng này ?
1209
Đó là sự trung thành với Truyền thống Tông đồ, nghĩa là sự hiệp thông trong đức
tin và trong các Bí tích đă lănh nhận từ các Tông đồ; sự hiệp thông này được
biểu lộ và bảo đảm bằng sự liên tục kế nhiệm tông đồ. Hội thánh là công giáo :
do đó, Hội thánh có thể hội nhập tất cả những sự phong phú đích thực của các nền
văn hóa khác nhau vào sự duy nhất của ḿnh.
249. Trong Phụng vụ, có phải tất cả đều bất
biến không ?
1205-1206
Trong Phụng vụ, nhất là trong Phụng vụ các Bí tích, có những yếu tố bất biến v́
là thể chế thiên định, đuợc Hội thánh trung thành ǵn giữ. Ngoài ra, cũng có
những yếu tố có thể thay đổi mà Hội thánh có quyền và đôi khi có bổn phận thích
nghi với các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau.
ĐOẠN THỨ HAI
BẢY BÍ TÍCH CỦA HỘI THÁNH
Bảy Bí tích của Hội thánh là :

Rửa tội,
Thêm sức
Thánh Thể
Thống hối
Xức dầu bệnh nhân
Truyền chức
Hôn phối
Các Bí tích
của Hội thánh là những hoa trái của hy tế cứu độ của Chúa Giêsu trên thập giá.
Bức tranh ba mảng tŕnh bày một nhà thờ nơi cử hành bảy Bí tích. Ở giữa, cây
thánh giá giương cao một cách vượt trội. Dưới chân thánh giá có Đức Maria, kiệt
lực, được thánh Gioan nâng đỡ, cũng như các bà đạo đức. Hậu cảnh, một linh mục
đang dâng Thánh lễ, nâng cao Bánh thánh sau truyền phép, cho thấy rằng hy tế
thập giá được hiện thực trong việc cử hành Thánh lễ dưới hai h́nh bánh rượu. Bên
trái cho thấy nhà nguyện bên cạnh, các Bí tích Rửa tội, Thêm sức được Giám mục
trao ban và cả Bí tích Thống hối. Bên phải, các Bí tích Truyền chức, Hôn phối và
Xức dầu bệnh nhân được trao ban.
ROGER VAN DER WEYDEN, Tranh ba mảng về bảy Bí tích, Bảo tàng Koninklijk
voor Schone Kunsten, Anvers.
250. Các Bí tích của Hội thánh được phân loại
thế nào ?
1210-1211
Người ta phân loại : các Bí tích khai tâm Kitô giáo (Rửa tội, Thêm sức và Thánh
Thể), các Bí tích chữa lành (Thống hối và Xức dầu bệnh nhân), các Bí tích phục
vụ cho sự hiệp thông và sứ vụ (Truyền chức thánh và Hôn phối). Bảy Bí tích liên
quan đến những thời điểm quan trọng trong đời sống Kitô hữu. Tất cả các Bí tích
đều hướng về Bí tích Thánh Thể “như mục đích đặc thù của ḿnh” (thánh Tôma
Aquinô).
CHƯƠNG MỘT
CÁC BÍ TÍCH KHAI TÂM KITÔ GIÁO
251. Việc khai tâm Kitô giáo được thực hiện thế
nào ?
1212
1275
Việc khai tâm Kitô giáo được thực hiện qua ba Bí tích đặt nền tảng cho
đời sống Kitô hữu. Các tín hữu được tái sinh nhờ Bí tích Rửa tội, được củng cố
nhờ Bí tích Thêm sức, và được nuôi dưỡng nhờ Bí tích Thánh Thể.
BÍ TÍCH RỬA TỘI
252. Các tên gọi của Bí tích đầu tiên trong việc
khai tâm Kitô giáo là ǵ ?
1213-1216
1276-1277
Đầu tiên, người ta gọi Bí tích này là Rửa tội theo nghi thức chính yếu
của việc cử hành. Rửa tội muốn nói việc “d́m xuống” nước. Người được Rửa tội
được d́m vào trong sự chết của Đức Kitô và sống lại với Người như một “thụ tạo”
mới (2 Cr 5,17). Người ta c̣n gọi Bí tích này là “tắm tái sinh và đổi mới trong
Chúa Thánh Thần” (Tt 3,5), hay là “ơn soi sáng” v́ người được Rửa tội trở thành
“con cái sự sáng” (Ep 5, 8).
253. Bí tích Rửa tội được diễn tả bằng những
h́nh ảnh tượng trưng nào trong Cựu Ước ?
1217-1222
Trong Cựu Ước, người ta gặp nhiều h́nh ảnh tượng trưng khác nhau về Bí tích Rửa
tội : nước, được coi như nguồn gốc của sự sống và sự chết; tàu Nôe
cứu thoát con người nhờ nước; cuộc vượt qua Biển Đỏ giải phóng dân Israel
khỏi ách nô lệ Ai Cập; việc băng qua sông Giođan tiến vào đất hứa, là
h́nh ảnh của sự sống đời đời.
254.
Ai đă kiện toàn những h́nh ảnh tượng trựng đó ?
1223-1224
Những h́nh ảnh tượng trưng trong Cựu Ước được hoàn thành trong Đức Giêsu Kitô,
Đấng ngay lúc khởi đầu đời sống công khai, đă để cho Gioan Tẩy giả làm phép rửa
cho ḿnh tại sông Giođan. Trên thập giá, từ cạnh sườn của Người bị đâm thâu, máu
và nước đă tuôn trào, là dấu chỉ của Bí tích Rửa tội và Thánh thể. Sau khi Phục
sinh, Người đă ủy thác cho các Tông đồ sứ vụ sau đây : “Anh em hăy đi giảng dạy
muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19-20).
255.
Hội thánh ban Bí tích Rửa tội cho những ai và từ bao giờ ?
1226-1228
Từ ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Hội thánh ban Bí tích Rửa tội cho những
ai tin vào Đức Giêsu Kitô.
256.
Nghi thức chính yếu của Bí tích Rửa tội là ǵ ?
1229-1245
1278
Nghi thức chính yếu của Bí tích này gồm việc d́m ứng viên xuống nước hay đổ nước
trên đầu họ trong khi kêu cầu : nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.
257.
Ai có thể lănh nhận Bí tích Rửa tội ?
1246-1252
Mọi người chưa lănh nhận đều có thể lănh nhận Bí tích Rửa tội.
258.
Tạo sao Hội thánh Rửa tội cho các em bé ?
1250
Bởi v́ các em bé được sinh ra trong tội nguyên tổ, nên cần được giải thoát khỏi
quyền lực Ác thần và đưa dẫn vào Vương quốc của sự tự do của con cái Thiên Chúa.
259.
Hội thánh đ̣i hỏi ǵ nơi người sắp lănh Bí tích Rửa tội ?
1253-1255
Hội thánh đ̣i hỏi người sắp nhận Bí tích Rửa tội phải tuyên xưng đức tin; trong
trường hợp là một người trưởng thành th́ việc tuyên xưng này phải do chính bản
thân họ, nhưng nếu là một em bé, th́ việc tuyên xưng do cha mẹ và Hội thánh. Cha
mẹ đỡ đầu và cả cộng đoàn giáo hội đều có trách nhiệm phần nào trong việc chuẩn
bị Bí tích Rửa tội (cho người dự ṭng) cũng như trong việc phát triển đức tin và
ân sủng của Bí tích Rửa tội .
260.
Ai có thể ban Bí tích Rửa tội ?
1256
1284
Thừa tác viên thông thường của Bí tích Rửa tội là các Giám mục và linh mục;
trong Giáo hội Latinh c̣n có cả các phó tế. Trong trường hợp cần thiết, mọi
người đều có thể ban Bí tích Rửa tội, miễn là họ có ư làm điều Hội thánh làm.
Người ban Bí tích Rửa tội đổ nước trên đầu ứng viên và đọc công thức Ba Ngôi khi
Rửa tội : “Tôi Rửa tội cho […] nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”
261.
Bí tích Rửa tội có cần
thiết cho ơn cứu độ không ?
1257
Bí tích Rửa tội cần thiết cho ơn cứu độ đối với những người đă được nghe rao
giảng Tin Mừng và những người có khả năng xin lănh nhận Bí tích này.
262.
Người không lănh Bí tích Rửa tội
có thể được cứu rỗi không ?
1258-1261
1281-1283
V́ Đức Kitô đă chết để cứu độ tất cả mọi người, nên những người sau đây có thể
được cứu độ dù không lănh nhận Bí tích Rửa tội : những ai chết v́ đức tin (Rửa
tội bằng máu), những người dự ṭng và cả những người, dưới tác động của ân
sủng, dù không biết Đức Kitô cũng như Hội thánh của Người, nhưng đă thành tâm
t́m kiếm Thiên Chúa và cố gắng chu toàn thánh ư Người (Rửa tội bằng ḷng ước
ao). Về phần các trẻ em chết mà không được Rửa tội, Hội thánh trong Phụng vụ
phó thác các em cho ḷng nhân từ của Thiên Chúa.
263.
Bí tích Rửa tội mang lại
những hiệu quả nào ?
1262-1274
1279-1280
Bí tích Rửa tội tha thứ nguyên tội, mọi tội cá nhân và các h́nh phạt do tội. Bí
tích Rửa tội cho tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ ơn thánh hóa,
nhờ ơn công chính hóa giúp tháp nhập vào Đức Kitô và Hội thánh Người. Bí tích
này cho tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và tạo nền tảng cho sự hiệp thông
với tất cả các người Kitô hữu. Bí tích này trao ban các nhân đức đối thần và các
hồng ân của Chúa Thánh Thần. Người lănh nhận Bí tích Rửa tội thuộc về Đức Kitô
luôn măi : họ được đóng ấn không thể xóa được của Đức Kitô (ấn tín).
264.
Đâu là ư nghĩa của “tên thánh” khi lănh Bí tích Rửa tội
?
2156-2159
2167
Mọi tên gọi đều là quan trọng v́ Thiên
Chúa biết tên gọi của từng người, nghĩa là biết tính cách độc đáo của mỗi người.
Khi lănh nhận Bí tích Rửa tội,
người Kitô hữu nhận một tên gọi đặc biệt trong Hội Thánh, ưu tiên nên chọn tên
của một vị thánh, vị này là gương mẫu thánh thiện cho người nhận tên, và ngài sẽ
chuyển cầu cho họ nơi Thiên Chúa.
BÍ TÍCH THÊM SỨC
265.
Bí tích Thêm sức có vị trí nào trong Nhiệm cục Cứu độ ?
1285-1288
1315
Trong Giao ước cũ, các tiên tri đă loan báo việc tuôn đổ Thánh Thần của Chúa
trên Đấng Mêsia đang được mong đợi, và trên toàn dân của Đấng Mêsia. Trọn đời
sống và sứ vụ của Đức Kitô diễn ra trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Thánh
Thần. Các Tông đồ nhận lănh Chúa Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ tuần và loan báo
“những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2, 11). Qua việc đặt tay, các ngài trao ban
cho các người mới lănh nhận Bí tích Rửa tội hồng ân của chính Chúa Thánh Thần.
Qua bao thế kỷ, Hội thánh liên tục sống nhờ Chúa Thánh Thần và thông ban Chúa
Thánh Thần cho con cái ḿnh.
266.
Tại sao Bí tích này được gọi là Bí tích Dầu thánh hay Thêm sức
?
1289
Người ta gọi Bí tích này là Bí tích Dầu thánh (trong các Giáo hội đông
phương : Chrismation là việc xức bằng dầu myron, nghĩa là Dầu thánh), bởi
v́ nghi thức chính yếu của Bí tích này là việc xức dầu. Người ta gọi Bí tích này
là Bí tích Thêm Sức, v́ Bí tích này kiên cường và củng cố ân sủng của Bí
tích Rửa tội.
267.
Nghi thức chính yếu của Bí tích Thêm sức là ǵ ?
1290-1301
1318
1320-1321
Nghi thức chính yếu của Bí tích Thêm sức là việc xức Dầu thánh (dầu pha hương
liệu đă được Giám mục thánh hiến), kèm theo việc đặt tay của thừa tác viên,
ngài sẽ đọc các lời thuộc Bí tích dành riêng cho nghi thức. Ở Phương Tây việc
xức dầu được ghi trên trán của những người đă được Rửa tội, kèm theo lời này :
“Hăy lănh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Trong các Giáo hội Đông Phương theo
nghi thức Byzantin, việc xức dầu c̣n ghi trên nhiều phần thân thể, với công thức
: “Tôi ghi dấu cho anh bằng hồng ân của Chúa Thánh Thần.”
268.
Bí tích Thêm sức có những hiệu quả nào ?
1302-1305
1316-1317
Hiệu quả của Bí tích Thêm sức là việc đổ tràn Chúa Thánh Thần cách đặc biệt, như
trong ngày lễ Ngũ Tuần. Việc đổ tràn này ghi một ấn tín không thể tẩy xoá trong
linh hồn người lănh nhận, và gia tăng ân sủng của Bí tích Rửa tội. Việc tuôn
tràn Thánh Thần giúp chúng ta tiến sâu hơn vào ơn làm con cái Thiên Chúa, kết
hợp chúng ta chặt chẽ hơn với Đức Kitô và với Hội thánh của Người. Bí tích này
củng cố trong tâm hồn chúng ta các hồng ân của Chúa Thánh Thần và trao ban cho
chúng ta một sức mạnh đặc biệt để làm chứng cho đức tin Kitô giáo.
269. Ai có thể lănh nhận Bí tích Thêm sức ?
1306-1311
1319
Tất cả những ai đă nhận Bí tích Rửa tội đều có thể và phải nhận Bí tích Thêm sức
và chỉ một lần duy nhất. Để lănh nhận cho có hiệu quả, người đă được Rửa tội
phải ở trong t́nh trạng ân sủng.
270. Ai là thừa tác viên của Bí tích Thêm sức ?
1312-1314
Thừa tác viên nguyên thủy của Bí tích Thêm sức là Giám mục. Đây là cách làm nổi
bật sự liên kết giữa người được Thêm sức với Hội thánh trong cơ cấu tông truyền.
Khi linh mục trao ban Bí tích này – điều này thông thường ở Đông Phương và trong
những hoàn cảnh đặc biệt ở Tây Phương – mối dây liên kết với Giám mục và với Hội
thánh được biểu lộ qua linh mục, là cộng sự viên của Giám mục, và qua Dầu thánh
được chính Giám mục thánh hiến.
BÍ TÍCH THÁNH THỂ
271. Bí tích Thánh Thể là ǵ ?
1322-1323
1409
Bí tích Thánh Thể là chính hy tế Ḿnh và Máu của Chúa Giêsu, mà Người đă thiết
lập để lưu tồn hy tế thập giá của Người qua bao thế kỷ cho đến khi Người lại
đến. Như thế, Người ủy thác cho Hội thánh việc tưởng nhớ cái Chết và cuộc Phục
sinh của Người. Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ hợp nhất, dây bác ái, bữa tiệc vượt
qua, nơi chúng ta lănh nhận Đức Kitô, linh hồn được tràn đầy ân sủng và được bảo
đảm cho đời sống vĩnh cửu.
272. Chúa Giêsu đă thiết lập Bí tích Thánh thể
khi nào ?
1323
1337-1340
Người đă thiết lập Bí tích Thánh Thể vào ngày Thứ Năm tuần thánh, “trong đêm bị
trao nộp” (1 Cr 11, 23), khi Người ăn bữa tiệc cuối cùng với các Tông đồ của
Người.
273. Người đă thiết lập Bí tích Thánh Thể như
thế nào ?
1337-1340
1365, 1406
Sau khi qui tụ các Tông đồ trong nhà Tiệc ly, Chúa Giêsu cầm lấy bánh trong tay,
bẻ ra và trao cho các ông mà nói : “Anh em hăy nhận lấy mà ăn : này là Ḿnh Thầy
bị nộp v́ anh em”. Rồi Người cầm trong tay chén đầy ruợu và nói với họ : “Anh em
hăy nhận lấy mà uống: này là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu, đổ ra
cho anh em và nhiều người được tha tội. Anh em hăy làm việc này mà nhớ đến
Thầy”.
274. Bí tích Thánh Thể có ư nghĩa ǵ trong đời
sống của Hội thánh ?
1324-1327
1407
Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của toàn bộ đời sống Kitô giáo.
Thánh Thể là tột đỉnh hoạt động thánh hóa của Thiên Chúa đối với chúng ta và là
tột đỉnh của hoạt động phượng tự chúng ta dâng lên Ngài. Bí tích Thánh Thể chứa
đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội thánh, đó chính là Đức Kitô, Đấng là
Chiên Vượt qua của chúng ta. Việc hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa và sự
hợp nhất của dân Thiên Chúa được diễn tả và thực hiện nhờ Bí tích Thánh Thể. Qua
việc cử hành Thánh lễ, chúng ta được kết hợp với Phụng vụ trên trời và tham dự
trước vào đời sống vĩnh cửu.
275. Bí tích này c̣n được gọi bằng những tên gọi
nào ?
1328-1332
Nguồn phong phú vô tận của Bí tích này được diễn tả qua nhiều tên gọi khác nhau,
gợi lên những khía cạnh đặc biệt. Những tên gọi thông dụng nhất là: Thánh Thể,
Thánh lễ, Bữa tiệc của Chúa, lễ Bẻ Bánh, Cử hành Thánh Thể, Tưởng nhớ cuộc khổ
nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa, Hy lễ thánh, Phụng vụ thánh và Thần
linh, Mầu nhiệm thánh, Bí tích thánh nơi bàn thờ, Hiệp lễ.
276. Đâu là vị trí của Bí tích Thánh Thể trong
Nhiệm cục cứu độ ?
1333-1344
Trong Giao ước cũ, Bí tích Thánh Thể đặc biệt được tượng trưng bằng bữa ăn Vượt
qua, được Người Hi-pri cử hành hàng năm với bánh không men, để ghi nhớ ngày ra
đi vội vă và giải phóng khỏi đất Ai Cập. Chúa Giêsu đă báo trước về Bí tích này
trong giáo huấn của Người, và Người đă thiết lập Bí tích này khi cử hành bữa
tiệc ly với các Tông đồ, trong khung cảnh bữa tiệc Vượt qua. Trung thành với
lệnh truyền của Chúa : “Hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1 Cr 11, 24), Hội
thánh luôn cử hành Bí tích Thánh Thể, nhất là vào ngày chúa nhật, ngày Phục sinh
của Chúa Giêsu.
277. Bí tích Thánh Thể được cử hành thế nào ?
1345-1355
1408
Bí tích Thánh Thể được cử hành gồm hai phần chính, hợp thành một hành vi phụng
tự duy nhất : Phụng vụ Lời Chúa gồm việc công bố và lắng nghe Lời Chúa, và Phụng
vụ Thánh Thể gồm việc tiến dâng bánh rượu, kinh nguyện thánh thể (hay anaphore)
và hiệp lễ.
278. Ai là thừa tác viên của Bí tích Thánh Thể
?
1348
1411
Thừa tác viên Bí tích Thánh Thể là vị tư tế (Giám mục hay linh mục) đă được
truyền chức thành sự; vị này cử hành trong cương vị (in Persona) Đức Kitô – Thủ
lănh và nhân danh Hội thánh.
279. Các chất liệu chính yếu và cần thiết của
Bí tích Thánh Thể là ǵ ?
1412
Các chất liệu đó là bánh ḿ và rượu nho.
280. Tại sao nói Bí tích Thánh Thể là việc
tưởng niệm hy tế của Đức Kitô ?
1362-1367
Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm theo nghĩa làm cho hiện diện và hiện
tại hoá hy tế thập giá mà Đức Kitô đă dâng lên Chúa Cha, một lần thay cho tất
cả, v́ nhân loại. Đặc tính hy tế của Bí tích Thánh Thể được biểu lộ trong chính
những lời thiết lập : “Đây là Ḿnh Thầy, bị nộp v́ anh em” và “Chén này là Giao
ước mới trong Máu Thầy, sẽ đổ ra v́ anh em” (Lc 22,19-20). Hy tế thập giá và hy
tế Thánh Thể là một hy tế duy nhất. Hiến vật và người dâng là một, chỉ khác biệt
về cách tiến dâng : cách đổ máu trên thập giá, cách không đổ máu trong Bí tích
Thánh Thể.
281. Hội thánh tham dự vào hy tế Thánh Thể theo
cách nào ?
1368-1372
1414
Trong Bí tích Thánh Thể, hy tế của Đức Kitô cũng trở thành hy tế của các chi thể
trong Thân Thể Người. Đời sống của các tín hữu, lời ca ngợi, hoạt động, cầu
nguyện, lao động của họ được kết hợp với Đức Kitô. V́ là hy tế, Bí tích Thánh
Thể cũng được dâng lên thay cho tất cả các tín hữu, người c̣n sống cũng như kẻ
đă qua đời, như của lễ đền tội cho tất cả mọi người, để đón nhận được từ Thiên
Chúa những ích lợi thiêng liêng và trần thế. Hơn nữa, Hội thánh trên trời cũng
hiện diện trong lễ dâng của Đức Kitô.
282. Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh
Thể như thế nào ?
1373-1375
1413
Đức Giêsu Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể một cách độc nhất vô nhị và
không thể so sánh được. Thật vậy, Người hiện diện cách đích thực, thực sự và
theo bản thể: với Ḿnh và Máu Người, với linh hồn và thần tính của Người.
Trong Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô trọn vẹn, vừa là Thiên Chúa vừa là con người,
hiện diện theo cách Bí tích, nghĩa là dưới h́nh bánh và h́nh rượu.
283. Biến đổi bản thể nghĩa là ǵ ?
1376-1377
1413
Biến đổi bản thể
nghĩa là sự biến đổi trọn vẹn bản thể bánh thành bản thể Ḿnh Thánh Đức Kitô, và
biến đổi trọn vẹn bản thể rượu thành bản thể Máu Thánh Người. Sự biến đổi này
được thực hiện trong Kinh Nguyện Thánh Thể, nhờ tính hữu hiệu của lời Đức Kitô
và tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, những đặc tính khả giác bên ngoài
của bánh và rượu, nghĩa là các “h́nh bánh rượu,” vẫn không thay đổi.
284. Việc bẻ bánh có phân chia Đức Kitô không ?
1377
Việc bẻ bánh không phân chia Đức Kitô. Người hiện diện trọn vẹn và toàn phần
trong mỗi h́nh dạng Thánh Thể, và trong mỗi phần nhỏ của cả hai h́nh dạng đó.
285. Sự hiện diện của Đức Kitô trong Bí tích
Thánh Thể kéo dài bao lâu ?
1377
Sự hiện diện của Đức Kitô kéo dài bao lâu h́nh bánh ruợu đă truyền phép c̣n tồn
tại.
286. Phải tôn thờ Bí tích Thánh Thể cách nào ?
1378-1381
1418
Đó là sự tôn thờ “latria”, nghĩa là sự tôn thờ chỉ dành riêng cho một ḿnh Thiên
Chúa, dù trong Thánh lễ, dù ngoài Thánh lễ. Hội thánh bảo quản bánh rượu đă
truyền phép một cách cẩn thận tối đa; Hội thánh mang Thánh Thể cho các bệnh
nhân, cho những người không có khả năng tham dự Thánh lễ. Hội thánh trưng Thánh
Thể cho các tín hữu tôn thờ cách long trọng ; mang Thánh Thể đi rước kiệu và mời
gọi mọi người thường xuyên kính viếng và thờ lạy Bí tích cực thánh này, được ǵn
giữ trong Nhà tạm.
287. Tại sao Bí tích Thánh Thể là tiệc Vượt qua
?
1382-1384
1391-1396
Bí tích Thánh Thể là tiệc Vượt qua v́ khi làm cho cuộc Vượt qua của Người hiện
diện một cách Bí tích, Đức Kitô ban cho chúng ta Ḿnh và Máu Người làm của ăn
thức uống. Người kết hợp chúng ta với Người và với nhau trong hy tế của Người.
288. Bàn thờ có ư nghĩa ǵ ?
1383
1410
Bàn thờ
là biểu tượng của chính Đức Kitô, Đấng đang hiện diện như của lễ hiến tế (bàn
thờ - hy tế thập giá) và như lương thực thần thiêng được ban tặng cho chúng ta
(bàn thờ – bàn tiệc Thánh Thể).
289. Hội thánh đ̣i buộc chúng ta phải tham dự
Thánh lễ khi nào ?
1389
1417
Hội thánh đ̣i buộc các tín hữu phải tham dự Thánh lễ vào các ngày Chúa nhật và
các lễ buộc. Hội thánh cũng khuyên chúng ta tham dự Thánh lễ vào các ngày khác
nữa.
290. Khi nào chúng ta phải rước lễ ?
|