H  Home page

Tại Hội Nghị thường niên HĐGMVN 2006,

Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám mục Mỹ Tho, Chủ tịch UBGLĐT,

đă phổ biến Bản dịch sách TOÁT YẾU GIÁO LƯ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

do UBGLĐT thực hiện,

để các giáo phận góp ư hoàn chỉnh Bản dịch.

NGUỒN VUI hân hạnh giới thiệu Bản dịch này,

và có thể làm trung gian chuyển các e-mail góp ư của độc giả

tới các vị có trách nhiệm liên hệ.

NGUỒN VUI

 

 

 

TOÁT YẾU GIÁO LƯ

CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

 

 

TỰ SẮC

 ĐỂ CHẤP THUẬN VÀ CÔNG BỐ

BẢN “TOÁT YẾU GIÁO LƯ”

CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

 

Kính gởi CHƯ HUYNH đáng kính,

Quư HỒNG Y, THƯỢNG PHỤ, TỔNG GIÁM MỤC, GIÁM MỤC

LINH MỤC, PHÓ TẾ VÀ MỌI THÀNH PHẦN DÂN CHÚA

 

  Cách đây hai mươi năm, sách GIÁO LƯ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO đă bắt đầu được soạn thảo, theo yêu cầu Khoá họp bất thường của Thượng Hội đồng Giám mục nhân dịp kỷ niệm hai mươi năm ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II.

Tôi vô cùng cảm tạ Thiên Chúa, v́ Ngài đă ban cho Hội thánh sách Giáo lư này; sách này đă được công bố vào năm 1992 do vị tiền nhiệm kính yêu của Tôi, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II. 

Giá trị lớn lao và vẻ đẹp của quà tặng này đă được hàng Giám mục xác nhận qua việc các ngài đón nhận một cách tích cực và rộng răi. Sách Giáo lư ấy nhắm trao vào tay các vị Giám mục như bản qui chiếu chắc chắn và đích thực để giảng dạy giáo lư công giáo và đặc biệt để soạn thảo các sách giáo lư địa phương. Sách Giáo lư cũng được mọi thành phần Dân Chúa đón nhận cách thuận lợi đáng kinh ngạc. Sách này cho đến nay đă được dịch ra hơn năm mươi thứ tiếng.

Giờ đây, với niềm vui lớn lao, Tôi chấp thuận và công bố bản Toát yếu Giáo lư này. 

Vào tháng 10 năm 2002, các tham dự viên của Hội nghị Quốc tế về Giáo lư đă nói lên một yêu cầu phổ biến trong Hội thánh là ước mong có được bản Toát yếu sách giáo lư. Vị Tiền nhiệm kính yêu của Tôi đă đón nhận ước muốn này và vào tháng 02 năm 2003 đă quyết định bắt đầu thực hiện. Ngài trao việc soạn thảo cho một Uỷ ban Hồng y, do chính Tôi làm chủ tịch, với sự cộng tác của nhiều chuyên viên. Trong quá tŕnh làm việc, một dự thảo bản Toát yếu này được chuyển đến các Hồng y và những vị Chủ tịch các Hội đồng Giám mục. Bản dự thảo này được một số rất đông đón nhận và đánh giá cao.  

Toát yếu mà hôm nay Tôi giới thiệu cho Hội thánh phổ quát là một tổng hợp trung thành và chắc chắn sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo. Bản toát yếu này chứa đựng cách ngắn gọn mọi yếu tố căn bản và nền tảng của đức tin Hội thánh, tạo thành một thứ thủ bản “cầm tay – Vademecum” như vị Tiền nhiệm của Tôi ước muốn, cho phép mọi người, dù tin hay không, có thể có được một cái nh́n toàn diện về đức tin công giáo.

Bản Toát yếu này phản ánh cách trung thành sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo ngay trong cấu trúc, nội dung lẫn ngôn ngữ; hy vọng nhờ sự hỗ trợ và động viên của bản Toát yếu này, sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo được biết đến cách rộng răi hơn và được đào sâu nhiều hơn.

  Với sự tin tưởng, Tôi trao bản Toát yếu này trước tiên cho toàn Hội thánh và đặc biệt cho từng người Kitô hữu, để vào thiên niên kỷ thứ ba này, mỗi người nhờ vào bản Toát yếu, có được một sức bật mới trong cố gắng Phúc Âm hoá và giáo dục đức tin. Đây phải là đặc điểm của tất cả các cộng đoàn trong Hội thánh và của tất cả những ai tin vào Đức Kitô, bất luận tuổi tác hay thuộc quốc gia nào.

 Nhờ tính chất ngắn gọn, trong sáng và đầy đủ, bản Toát yếu này cũng nhắm đến mọi người, đang sống trong một thế giới phân tán và có quá nhiều sứ điệp, khao khát biết được con Đường Sự sống, Chân lư, đă được Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh của Con ḿnh.

 Khi đọc bản Toát yếu có thẩm quyền này, nhờ sự cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, Mẹ Đức Kitô và là Mẹ Hội thánh, mỗi người có thể nhận ra và đón nhận ngày một hơn vẻ đẹp, sự thống nhất và tính hiện thực bất tận của món quà vô giá mà Thiên Chúa đă ban tặng cho nhân loại : đó là Con Duy Nhất của Ngài, Đức Giêsu Kitô, Đấng là “Đường, là Sự thật và là Sự sống”  (Ga 14,6).

 

Ban hành tại Rôma, gần Đền thờ thánh Phêrô, ngày 28 tháng 06 năm 2005,

Áp Đại lễ kính hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô,

Năm thứ  nhất triều đại Giáo hoàng của Tôi

 

BENEDICTUS  PP XVI

 

 

 

 

 

 

Bức tranh Đức Kitô PANTOCRATOR (Chủ tể muôn loài), có một vẻ đẹp mỹ thuật đặc biệt, gợi nhớ lời Thánh vịnh : “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ, ân sủng được tuôn đổ trên môi ngài”(Tv 44 [45], 3). Áp dụng lời ca ngợi này vào Chúa Giêsu, thánh Gioan Kim Khẩu viết : “Đức Kitô ở vào tuổi tuyệt vời, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần; nơi Người chiếu tỏa một nét đẹp trên cả hai b́nh diện, nét đẹp của tâm hồn và nét đẹp của thể xác” (Giáo phụ Hy Lạp [PG] 52,479).

Bằng ngôn ngữ tượng h́nh, bức tranh này là một tổng hợp các Công đồng chung đầu tiên, không những tŕnh bày vẻ huy hoàng của nhân tính, nhưng cả vinh quang của thần tính Chúa Giêsu.

Đức Kitô mặc một áo dài đỏ, bên ngoài là một áo choàng xanh đậm. Hai màu sắc này nhắc nhớ đến hai bản tính của Người, trong khi các phản chiếu ánh vàng gợi lên ngôi vị thần linh của Ngôi Lời. Từ vai phải có một dây các phép nạm vàng sa xuống, biểu trưng chức tư tế vĩnh cửu của Người. Gương mặt Người, uy nghi và trang trọng, được bao bọc bằng bộ tóc dày trên  nền một hào quang ở giữa có h́nh thánh giá. Trên h́nh thánh giá có ba mẫu tự O?N (Người là Đấng Hiện Hữu) lấy lại mạc khải danh Thiên Chúa trong sách Xuất Hành 14,3. Trên cao, ở viền bức tranh có hai cặp mẫu tự “IC – XC” (“Jesus” – “Christus”) tạo thành tựa đề cho bức ảnh.

Bàn tay mặt, ngón cái và ngón đeo nhẫn gấp lại gần như đụng nhau (để chỉ hai bản tính của Đức Kitô trong sự hợp nhất của ngôi vị), được tŕnh bày với cử chỉ đặc trưng của việc ban phúc lành. Ngược lại, bàn tay trái, siết chặt quyển Tin Mừng; quyển sách này có ba ổ khóa, nhiều viên ngọc trai và đá quí. Quyển Tin Mừng, biểu trưng và tổng hợp Lời Chúa, cũng có một ư nghĩa Phụng vụ v́ trong mỗi Thánh lễ chúng ta đều đọc một đoạn và khi truyền phép chúng ta đọc lại  lời của chính Chúa  Giêsu.

Bức tranh này liên kết một cách thành công những yếu tố tự nhiên và biểu trưng, mời gọi chúng ta suy niệm và bước theo Chúa Giêsu. Ngày hôm nay, thông qua Hội thánh là Hôn thê và là Thân thể nhiệm mầu của Người, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục chúc lành cho nhân loại và soi sáng nhân loại bằng Tin Mừng của Người, đó thực sự là cuốn sách của chân lư, của hạnh phúc và của ơn cứu độ con người.   

Vào tháng 08 năm 386, khi đang ở trong vườn, thánh Augustinô nghe một tiếng nói với ngài : “Hăy cầm lấy và đọc, hăy cầm lấy và đọc” (Tự thuật 8,12,29). Bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo là một tổng hợp Tin Mừng của Chúa Giêsu được huấn giáo của Hội thánh dạy dỗ; đó là một lời mời để mở quyển sách chân lư và đọc, và có thể là “ nuốt đi” như lời ngôn sứ Êdêkien (x. Ed 3,1-4).

THÉOPHANE DE CRÈTE (1546), Bức tranh về Đức Kitô, Tu viện Stavronikita, núi Athos.

 

 

DẪN NHẬP

 

1. Ngày 11 tháng 10 năm 1992, Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trao cho các tín hữu trên toàn thế giới sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, như một “bản văn qui chiếu” [1] cho Giáo lư được canh tân từ nguồn gốc sống động của đức tin. Ba mươi năm sau ngày khai mạc Công đồng Vaticanô II (1962-1965) một ước mơ đă trở thành hiện thực, ước mơ này đă được Thượng Hội đồng bất thường của các Giám mục vào năm 1985 đạo đạt lên, đó là ước muốn có một sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo tŕnh bày tất cả đức tin cũng như luân lư.

 Năm năm sau, ngày 15 tháng 08 năm 1997, khi công bố Ấn bản mẫu của sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, Đức Giáo hoàng xác nhận mục đích cơ bản của tác phẩm này : “Đây là một tŕnh bày đầy đủ và trọn vẹn giáo lư công giáo, cho phép mỗi người nhận ra điều Hội thánh tuyên xưng, cử hành, sống và cầu nguyện trong cuộc sống hằng ngày của ḿnh” [2].

 

2. Để làm nổi bật giá trị giáo lư và để đáp lại một yêu cầu do Đại hội Quốc tế về Giáo lư đạo đạt vào năm 2002, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă thành lập một Ủy ban đặc biệt vào năm 2003, đứng đầu là Đức Hồng y Joseph Ratzinger, Bộ trưởng Bộ Giáo lư Đức tin, ủy thác cho ngài công tác viết một bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, trong đó các nội dung đức tin được tŕnh bày một cách tổng hợp hơn. Sau hai năm làm việc, Ủy ban viết được bản Dự thảo bản toát yếu; bản này được trao cho các Hồng y và Chủ tịch các Hội đồng Giám mục để xin ư kiến. Một số đông các phúc đáp đều đánh giá cao bản dự thảo này. V́ thế Ủy ban bắt đầu cho duyệt lại bản dự thảo dựa theo các đề nghị chỉnh sửa để chuẩn bị cho bản văn cuối cùng.

 

3. Bản Toát yếu này có ba đặc điểm chính như sau : lệ thuộc chặt chẽ vào sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo; h́nh thức hỏi thưa; và việc sử dụng các h́nh ảnh nghệ thuật vào trong Giáo lư.

 Trước hết, bản Toát yếu này không phải là một tác phẩm hoàn toàn độc lập và cũng không phải để thay thế cho sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo; ngược lại luôn qui hướng về sách Giáo lư, bằng cách ghi những số liên hệ và theo sát cấu trúc, cách tŕnh bày và nội dung của sách Giáo lư. Ngoài ra bản Toát yếu muốn khơi dậy mối quan tâm và ḷng nhiệt thành đối với sách Giáo lư, sách vẫn luôn là bản văn nền tảng cho giáo lư của Hội thánh ngày nay bởi cách tŕnh bày khôn ngoan và chiều sâu thiêng liêng của nó.

 Như  sách Giáo lư, bản Toát yếu cũng chia ra làm bốn phần tương ứng với những lề luật căn bản cho đời sống trong Đức Kitô.

 Phần đầu tiên – có tựa đề “Tuyên xưng đức tin” – gồm một tổng hợp cơ bản về Lex credendi, có nghĩa là Luật đức tin được Hội thánh Công giáo tuyên xưng, một tổng hợp rút  ra từ Kinh Tin Kính của các thánh Tông đồ, được bổ túc bằng bản Kinh Tin Kính của hai Công đồng Nicea và Constantinopoli, mà việc công bố liên tục trong những buổi họp mặt giúp người Kitô hữu luôn nhớ các chân lư nền tảng của đức tin.

 Phần thứ hai – có tựa đề “Cử hành mầu nhiệm Kitô giáo” – tŕnh bày các yếu tố căn bản của Lex celebrandi. Việc rao giảng Tin Mừng t́m được câu trả lời thích ứng trong đời sống Bí tích. Trong đời sống này, các tín hữu có kinh nghiệm và làm chứng trong mỗi giây phút cuộc đời ḿnh hiệu năng cứu độ của mầu nhiệm Vượt qua, trong đó Đức Kitô hoàn tất công tŕnh cứu độ chúng ta.

Phần thứ ba – có tựa đề “Đời sống trong Đức Kitô” – nhắc nhớ lại Lex vivendi, có nghĩa là sự dấn thân mà các tín hữu biểu lộ trong thái độ và sự chọn lựa đạo đức của ḿnh, sự trung thành với đức tin đă được tuyên xưng và được cử hành. Chúa Giêsu mời gọi các tín hữu thực hiện những hành động phù hợp với phẩm giá là con của Chúa Cha trong t́nh yêu của Chúa Thánh Thần.

Phần thứ tư – có tựa đề “Kinh nguyện Kitô giáo” -  tŕnh bày một tổng hợp về Lex Orandi, có nghĩa là về đời sống cầu nguyện. Theo gương Chúa Giêsu, mẫu mực tuyệt vời cho kẻ cầu nguyện, người Kitô hữu được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa trong kinh nguyện, mà một trong những cách diễn tả ưu thế nhất là Kinh Lạy Cha, đó là kinh do chính Chúa Giêsu dạy chúng ta.

 

4. Đặc điểm thứ hai của bản toát yếu này là h́nh thức đối thoại, lấy lại h́nh thức cổ xưa của sách giáo lư, gồm các câu hỏi và câu thưa. Đây là cách đối thoại giữa thầy và tṛ qua một loạt câu hỏi gây chú ư cho người đọc, mời gọi họ khám phá những phương diện luôn luôn mới của chân lư đức tin của ḿnh. H́nh thức hỏi thưa thu ngắn bản văn, đúc kết vào điểm chính yếu, tiện cho việc học thuộc ḷng nội dung.

 

5.  Đặc điểm thứ ba là có nhiều h́nh ảnh làm nổi bật cách phân chia bản toát yếu. Các tranh ảnh này được rút từ gia sản phong phú của nghệ thuật tranh ảnh thánh của Kitô giáo. Từ truyền thống cả ngh́n năm của các Công đồng, chúng ta học biết rằng tranh ảnh cũng là một cách rao giảng Tin Mừng. Các nghệ nhân của mọi thời đại tŕnh bày cho các tín hữu chiêm ngắm và kinh ngạc trước những sự kiện nổi bật của mầu nhiệm cứu độ với sự huy hoàng của màu sắc và vẻ đẹp tuyệt vời. Đó là một dấu chỉ cho thấy tranh ảnh thánh, trong văn hóa h́nh ảnh ngày nay, có thể diễn tả nhiều hơn là ngôn từ, v́ trong sự sinh động của nó, sứ điệp Tin Mừng sẽ có nhiều hiệu quả hơn khi được diễn tả bằng ngôn từ và được tiếp tục truyền đạt.       

 

6. Bốn mươi năm sau ngày kết thúc Công đồng Vaticanô II và trong năm Thánh Thể, bản Toát yếu có thể xem như là một công cụ mới để thỏa măn khát vọng t́m kiếm chân lư của các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi và trong mọi hoàn cảnh, cũng như ước muốn của những ai, dù chưa phải là tín hữu, đang khao khát chân lư và công bằng. Việc công bố bản Toát yếu này được diễn ra trong ngày Đại lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, cột trụ của Hội thánh toàn cầu và là những người rao giảng gương mẫu Tin Mừng cho thế giới trong thời đại của các ngài. Các vị Tông đồ này biết rơ điều các ngài rao giảng và chứng minh cho chân lư Đức Kitô đến hy sinh mạng sống. Chúng ta hăy bắt chước các ngài trong sự dấn thân truyền giáo và cầu xin Chúa cho Hội thánh luôn dơi theo giáo huấn của các Tông đồ, nhờ các ngài mà Hội thánh đă lănh nhận trước tiên lời tuyên xưng vinh phúc của đức tin. 

 

Lễ Lá, ngày 20 tháng 03 năm 2005

 

                                              Hồng Y Joseph Ratzinger

                                              Chủ tịch Ủy Ban đặc biệt  

 

Chú thích

[1] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Fidei depositum, 11.10.1992, DC 91 (1993) trang 1.

[2] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư Laetamur magnopere, 1508, 1997, DC 94 (1997) trang 851.

 

  

 

 

 

Kiệt tác hoành tráng diễn tả việc các Đạo sĩ đến thờ lạy Chúa (x. Mt 2,1-12) tŕnh bày mạc khải của Chúa Giêsu cho muôn dân. Mầu nhiệm Nhập thể là một hồng ân không những dành cho niềm tin của Đức Maria, của thánh Giuse, của các người phụ nữ, của những mục đồng, những con người đơn sơ của dân Israel, nhưng cũng cho niềm tin của những kẻ xa lạ đến từ phương Đông, để thờ lạy Đấng Mêsia mới sinh và dâng lên Người các lễ vật : “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp ḿnh bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2,11).

Các Đạo sĩ là những người đầu tiên của những dân tộc được mời gọi đến đức tin; họ đến với Chúa Giêsu không phải với bàn tay không, nhưng với sự phong phú của quê hương và văn hóa của họ.

Tin Mừng của Chúa Giêsu là lời cứu độ cho toàn thể nhân loại. Thánh Giáo hoàng Lêô Cả đă nói : “Mọi dân tộc, được ba vị Đạo sĩ này đại diện, thờ lạy Đấng Sáng Tạo vũ tru,ï và Thiên Chúa không những được rao giảng trong vùng Giuđêa, nhưng trên toàn thế giới, để Danh Ngài thật vĩ đại trên toàn Israel (x. Tv 75,2)” (Bài giảng thứ 3 ngày lễ Hiển linh).

Phần thứ nhất của bản Toát yếu tŕnh bày việc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người và là lời đáp trả đức tin mà Hội thánh, nhân danh toàn thể nhân loại, dâng lên đáp lại hồng ân Nhập thể cứu độ của Con Thiên Chúa và cuộc Mạc khải thần linh của Người.

Gentile da Fabriano (1423) , Các Đạo sĩ thờ lạy, Galleria degli Uffizi, Florenz.

   

 

PHẦN  I

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

 

 ĐOẠN THỨ NHẤT

“TÔI TIN” – “CHÚNG TÔI TIN”

  

 

 

 

Bức ảnh nhỏ này tŕnh bày chu kỳ trọn vẹn của sáu ngày sáng tạo cho đến lúc nguyên tổ của nhân loại bị cám dỗ (x. St 1-3).

 

Công tŕnh Ngài, lạy Chúa, quả thiên h́nh vạn trạng !

Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan,

những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất.

Này đại dương bát ngát mênh mông,

 nơi muôn vàn sinh vật to lẫn nhỏ vẫy vùng,

nơi tàu bè cỡi sóng và thủy quái tung tăng,

là vật Chúa tạo thành để làm tṛ tiêu khiển.

Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa

đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn.

Ngài ban xuống, chúng lượm về,

Ngài mở tay, chúng thỏa thuê ơn phúc…

Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi ! 

                                   (Tv 104, 24-28.35)

 

Trong đêm Vọng Phục sinh, Hội thánh ca ngợi Chúa v́ công tŕnh vĩ đại hơn nữa  của ơn cứu độ nhân loại và vũ trụ

          Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,

Chúa luôn hoạt động với sự khôn ngoan tuyệt vời,   

Chúa ban cho loài người mà Chúa đă cứu chuộc

để hiểu hy tế của Đức Kitô, Chiên lễ Vượt qua của chúng con,

là một công tŕnh c̣n vĩ đại hơn cả công tŕnh sáng tạo vào lúc khởi đầu vũ trụ.

Thánh Kinh của Souvigny, Những mẫu ảnh nhỏ về những Ngày Tạo dựng, Moulins, Thư viện thành phố.

 

 

1.       Ư định của Thiên Chúa dành cho con người là ǵ ?

1-25

Thiên Chúa tự bản thể là Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ư định nhân hậu, Ngài đă tự ư tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài. Khi thời gian đến hồi viên măn, Thiên Chúa Cha đă cử Con Ngài đến làm Đấng Cứu Thế chuộc tội cho nhân loại đă sa ngă trong tội lỗi, để kêu gọi họ vào trong Hội thánh Ngài, và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đón nhận họ làm dưỡng tử, và được thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài.

 

 

                                       CHƯƠNG MỘT

CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG” ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA

 

“Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và đáng ca tụng. . . . Chúa đă dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn của chúng con luôn xao xuyến cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa” (Thánh Augustinô).

 

2.      Tại sao con người khát khao Thiên Chúa ?

27-30

44-45

Khi tạo dựng con người theo h́nh ảnh ḿnh, chính Thiên Chúa đă khắc ghi vào trong tâm hồn họ sự khát khao nh́n thấy Ngài. Cả khi họ không nhận ra sự khát khao này, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo họ đến với ḿnh, v́ chỉ nơi Thiên Chúa, họ mới sống và t́m được chân lư và hạnh phúc viên măn mà họ luôn t́m kiếm. V́ vậy, tự bản chất và do ơn gọi của ḿnh, con người là một hữu thể tôn giáo, có khả năng bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa. Dây liên hệ mật thiết và sống động này với Thiên Chúa đem lại cho con người phẩm giá căn bản của ḿnh.

3.      Với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa không ?

31-36

46-47

Khởi từ công tŕnh tạo dựng, nghĩa là từ thế giới vật chất và con người, con người có thể chỉ dùng lư trí cũng nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ, là sự thiện hảo tuyệt vời, là chân lư và vẻ đẹp vô cùng vô tận.  

4.      Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con người có đủ khả năng để nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không ?

37-38

Chỉ với ánh sáng của lư trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, tự ḿnh, con người không thể nào bước vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. V́ thế, con người cần được Mạc khải của Thiên Chúa soi dẫn, không những về những ǵ vượt quá sự hiểu biết nhân loại, mà cả về những chân lư tôn giáo và luân lư, tự chúng vốn không vượt quá khả năng của lư trí, để mọi người trong t́nh trạng hiện thời của nhân loại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn và không sai lầm.  

5.      Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa thế nào ?

39-43

48-49

Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con người và của những thụ tạo khác, đó là một phản ánh, dù rất hạn hẹp, về sự hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh luyện ngôn ngữ của chúng ta v́ nó bất toàn và bị lệ thuộc vào h́nh ảnh, phải ư thức rằng chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô tận của Thiên Chúa.  

 

 

CHƯƠNG HAI

THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI

 

Mạc khải của Thiên Chúa

 

6.      Thiên Chúa mạc khải cho con người điều ǵ ?

50-53

68-69

Với ḷng nhân hậu và sự khôn ngoan, Thiên Chúa tự mạc khải chính ḿnh cho con người. Qua các hành động và lời nói, Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ư định của ḷng nhân hậu, mà Ngài đă hoạch định tự muôn đời trong Đức Kitô. Ư định này nhằm đón nhận tất cả mọi người trở thành nghĩa tử trong Người Con duy nhất của Ngài nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và cho họ tham dự vào sự sống của Thiên Chúa.

7.      Những giai đoạn đầu tiên của Mạc khải là ǵ ?

54-58

70-71

 Từ nguyên thủy, Thiên Chúa tỏ ḿnh ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông Ađam và bà Evà, và mời gọi họ bước vào sự hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngă, Ngài đă không chấm dứt việc Mạc khải, nhưng đă hứa ban ơn cứu độ cho tất cả miêu duệ của họ. Sau cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đă kư kết với ông Noe một Giao ước giữa Ngài với tất cả các sinh linh.  

8.      Những giai đoạn tiếp theo của Mạc khải của Thiên Chúa là ǵ ?  

59-64

72

Thiên Chúa chọn ông Abraham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành “cha của vô số dân tộc” (St 17,5) và hứa qua ông sẽ chúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất” (St 12,3). Con cháu của ông Abraham là những kẻ thừa hưởng các lời Thiên Chúa đă hứa với tổ phụ họ. Thiên Chúa đă lập Israel làm dân Ngài tuyển chọn, cứu thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, kư kết với họ Giao ước Sinai và, qua ông Môsê, Ngài ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đă loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện cho dân Chúa cũng là ơn cứu độ dành cho tất cả mọi dân tộc, trong một Giao ước mới và vĩnh cửu. Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, đă được sinh ra từ dân Israel, và từ ḍng dơi Vua Đavít. 

9.      Giai đoạn Mạc khải trọn vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa là ǵ ?

65-66

73

Giai đoạn Mạc khải trọn vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa được thực hiện nơi Ngôi Lời nhập thể, là Đức Giêsu Kitô, Đấng là trung gian và là viên măn của Mạc khải. Chúa Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa, đă làm người, là Lời hoàn hảo và dứt khoát của Chúa Cha. Mạc khải đă được hoàn tất cách trọn vẹn qua việc Thiên Chúa Cha sai Con Ngài và ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội thánh phải dần dần trải qua bao thế kỷ mới nhận biết ư nghĩa đầy đủ của Mạc khải.

 “Từ khi Thiên Chúa ban cho chúng ta Con Ngài, Đấng là Lời duy nhất và dứt khoát của Ngài, Thiên Chúa đă nói với  chúng ta một lần duy nhất trong Lời này và Ngài không c̣n ǵ để nói thêm nữa” (Thánh Gioan Thánh Giá).

 

10.  Các mạc khải tư có gía trị ǵ ?

67

Mặc dầu các mạc khải tư không thuộc về kho tàng đức tin, nhưng chúng có thể giúp chúng ta sống đức tin, với điều kiện chúng có một liên hệ chặt chẽ với Đức Kitô. Huấn quyền Hội thánh, có thẩm quyền để phân định các mạc khải tư đó, không thể chấp nhận những mạc khải tư nào vượt qua hay muốn sửa đổi Mạc khải dứt khoát là chính Đức Kitô.       

 

Lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa

 

11.  Tại sao phải lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách nào ?

74

Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1 Tm 2,4), nghĩa là nhận biết Đức Giêsu Kitô. V́ thế, phải rao giảng Đức Kitô cho mọi người, như chính lời Người dạy : “Hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Điều này đă được thực hiện bởi Truyền thống các Tông đồ, gọi tắt là Truyền thống tông đồ. 

12.  Truyền thống tông đồ là ǵ ?

75-79

83

96, 98

Truyền thống tông đồ là việc chuyển đạt sứ điệp của Đức Kitô, đă được thực hiện ngay từ lúc khởi đầu Kitô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, các cơ chế, phụng tự, và các sách được linh ứng. Các Tông đồ đă chuyển đạt mọi điều các ngài đă lănh nhận từ Đức Kitô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế nhiệm các ngài, là các giám mục, và qua họ, cho  mọi thế hệ đến tận thế.

13.  Truyền thống tông đồ được thực hiện như thế nào ?  

76

Tông truyền được thực hiện bằng hai cách : qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách đơn sơ là Thánh truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng ơn cứu độ được ghi lại thành chữ viết.

14.  Tương quan giữa Thánh truyền và Thánh Kinh như thế nào ?

80-82

97

Thánh truyền và Thánh Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu nhiệm Đức Kitô được hiện diện và sung măn trong Hội thánh và cả hai cùng xuất phát từ một cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức tin duy nhất, nơi Hội thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những chân lư được mạc khải.  

15.  Kho tàng đức tin đă được ủy thác cho ai ?

84, 91

94, 99

Từ thời các thánh Tông đồ, kho tàng đức tin đă được ủy thác cho toàn thể Hội thánh. Nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của đức tin, toàn thể dân Chúa đón nhận Mạc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi ngày một sâu xa hơn, và cố gắng sống Mạc khải đó. 

16.  Ai có thẩm quyền để  giải nghĩa kho tàng đức tin ?

85-90

100

Chỉ có Huấn quyền sinh động của Hội thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phêrô làm Giám mục Rôma và các Giám mục hiệp thông với ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng đức tin. Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng về chân lư, có trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức tŕnh bày các chân lư chứa đựng trong Mạc khải của Thiên Chúa; thẩm quyền này cũng áp dụng trên các chân lư có liên hệ thiết yếu với Mạc khải.

 

17.  Đâu là mối tương quan giữa Thánh truyền, Thánh Kinh và Huấn quyền ?

95

Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn quyền liên hệ chặt chẽ với nhau, đến độ thực thể này không hiện hữu nếu không có hai thực thể kia. Dưới tác động của cùng một Chúa Thánh Thần, cả ba góp phần cách hữu hiệu vào ơn cứu độ loài người, mỗi thực thể theo cách thức riêng của ḿnh.

 

Thánh Kinh

 

18.  Tại sao Thánh Kinh lại có thể dạy chân lư ?

105-108

135-136

Bởi v́ chính Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh. Thánh Kinh là quyển sách được linh ứng và dạy dỗ cách không sai lạc những chân lư cần thiết cho ơn cứu độ chúng ta. Thật vậy, Chúa Thánh Thần linh ứng cho các tác giả phàm nhân để họ viết ra những điều Thiên Chúa muốn dạy dỗ chúng ta. Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo không phải là một “tôn giáo của sách vở”, nhưng là của Lời Thiên Chúa, “không là một ngôn từ được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và sống động” (thánh Bênađô Clairvaux).

 

19.  Chúng ta phải đọc Thánh Kinh như thế nào ?

109-119

137

Thánh Kinh phải được đọc và giải thích dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và phải theo sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội thánh, theo ba tiêu chuẩn : (1) phải chú ư đến nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh; (2) phải đọc Thánh Kinh trong Thánh truyền sống động của Hội thánh; (3) phải chú ư đến tính tương hợp của đức tin, nghĩa là đến sự liên hệ hài ḥa giữa các chân lư đức tin với nhau.

 

20.  Quy điển (Canon) của các Sách Thánh là ǵ ?              

120, 138

Quy điển  các Sách Thánh là danh mục đầy đủ về các Sách Thánh, mà Tông truyền đă phân định rơ ràng cho Hội thánh. Quy điển này gồm có bốn mươi sáu tác phẩm Cựu Ước và hai mươi bảy tác phẩm Tân Ước.

 

21.  Đâu là tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các người Kitô hữu ?

121-123

Người Kitô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời đích thực của Thiên Chúa. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước được Thiên Chúa linh ứng nên có một giá trị trường tồn. Cựu Ước là bằng chứng cho thấy nghệ thuật giáo dục bằng t́nh yêu cứu độ của Thiên Chúa. Và nhất là, các tác phẩm Cựu Ước được viết ra để chuẩn bị cho việc Đức Kitô, Đấng Cứu Độ muôn loài, ngự đến.

 

22.  Đâu là tầm quan trọng của Tân Ước đối với các người Kitô hữu ?

124-127

139

Trung tâm của Tân Ước là Đức Giêsu Kitô. Tân Ước dạy chúng ta chân lư dứt khoát được Thiên Chúa mạc khải. Trong Tân Ước, bốn quyển Phúc Âm – Matthêu, Marcô, Luca và Gioan – là những chứng từ chính yếu về đời sống và về lời giảng dạy của Chúa Giêsu; bốn quyển sách này tạo thành trung tâm của tất cả Sách Thánh và có một vị trí độc nhất trong Hội thánh.  

 

23.  Đâu là sự thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước ?

128-130

140

Thánh Kinh chỉ là một, v́ chỉ có một Lời Chúa duy nhất, một chương tŕnh cứu độ duy nhất của Thiên Chúa và một linh ứng duy nhất của Thiên Chúa cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước : cả hai soi sáng cho nhau.

 

24.  Thánh Kinh giữ vai tṛ nào trong đời sống Hội thánh ?

131-133

141-142

Thánh Kinh đem lại sự hỗ trợ và sức mạnh cho đời sống Hội thánh. Đối với con cái Hội thánh, Thánh Kinh là sự củng cố đức tin, là lương thực và nguồn mạch của đời sống tinh thần. Thánh Kinh là linh hồn của các môn thần học và giảng thuyết mục vụ. Thánh Vịnh gọi Thánh Kinh là “đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118 [119],105). V́ thế, Hội thánh khuyến khích chúng ta thường xuyên đọc Thánh Kinh, v́ “không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô” (thánh Giêrônimô).

 

CHƯƠNG BA

LỜI ĐÁP TRẢ CỦA CON NGƯỜI VỚI THIÊN CHÚA

 

Tôi Tin

 

25.  Con người đáp trả như thế nào với Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải ?

142-143

Được ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ, con người đáp lời Thiên Chúa bằng việc vâng phục đức tin, bao gồm việc tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lư của Ngài, chân lư được Thiên Chúa bảo đảm v́ chính Ngài là Chân Lư.

 

26.  Trong Thánh Kinh, ai là những nhân chứng chính yếu cho việc vâng phục đức tin ?

144-149

Có rất nhiều chứng nhân, nhưng đặc biệt là hai vị :

-         Ông Abraham, dù bị thử thách, “vẫn vững tin vào Thiên Chúa” (Rm 4,3) và luôn vâng phục tiếng gọi của Ngài; v́ thế ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11.18);

-         Đức Trinh Nữ Maria, trong suốt cuộc đời đă thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin :  “Fiat mihi secundum verbum tuum – xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

 

27.  Tin vào Thiên Chúa có ư nghĩa cụ thể ǵ cho con người ?

150-152

176-178

Tin vào Thiên Chúa có nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và chấp nhận tất cả những chân lư do Ngài mạc khải v́ Ngài chính là Chân lư. Điều này có nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị : Chúa Cha,  Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 

28.  Đức tin có những đặc điểm ǵ ?

153-165

179-180

183-184

Đức tin là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa, được trao ban cho tất cả những ai cầu xin với ḷng khiêm hạ; đó là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được cứu độ. Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành động của lư trí con người, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự do gắn bó với chân lư của Thiên Chúa. Ngoài ra, đức tin c̣n có đặc tính chắc chắn, v́ được đặt nền tảng trên Lời Chúa; đức tin có đặc tính năng động “nhờ Đức ái” (Gl 5,6); đức tin luôn tăng triển, đặc biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Trong hiện tại, đức tin cho chúng ta nếm trước niềm vui trên trời. 

 

29.  Tại sao không có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học ?

159

Dù đức tin vượt lên trên lư trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, v́ cả hai đều có cùng một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban ánh sáng lư trí và đức tin cho con người.  

 

“Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin” (Thánh Augustinô).

 

 

Chúng Tôi Tin

 

30.  Tại sao đức tin là một hành vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi mang tính giáo hội  ?

166-169

181

Đức tin là một hành vi cá nhân, v́ đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính giáo hội, tính chất này được bày tỏ trong lời tuyên xưng đức tin : “Chúng tôi tin.” Thật vậy, chính Hội thánh tin : qua đó, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, Hội thánh đi bước trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. V́ thế, Hội thánh là Mẹ và là Thầy.

 

“Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội thánh là Mẹ.” (Thánh Cyrianô)

 

31.  Tại sao những công thức đức tin lại quan trọng ?

170-171

Những công thức đức tin là quan trọng v́ chúng giúp ta diễn tả, đồng hóa, cử hành và cùng chia sẻ với những người khác các chân lư đức tin, khi sử dụng một ngôn ngữ chung.

 

32.  Phải hiểu như thế nào về đức tin duy nhất của Hội thánh ?

172-175

182

Dù được h́nh thành do nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục, Hội thánh đồng thanh tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lănh nhận từ một Chúa duy nhất và được chuyển đạt qua một Truyền thống tông đồ duy nhất. Hội thánh tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất –Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – và dạy một con đường cứu độ duy nhất. V́ thế, chúng ta, cùng một ḷng một ư, tin những ǵ chứa đựng trong Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra và được Hội thánh xác định là do Thiên Chúa mạc khải.

 

 

 

 

ĐOẠN THỨ HAI

 

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KITÔ GIÁO

 

  

 

 

 

 

 

 


 

Bức tranh ghép đá cổ xưa, trong đại thánh đường Rôma cổ mang tên thánh Clêmentê, tôn vinh vinh quang thập giá, mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo. Chúng ta có thể thấy hoa rực rỡ quanh gốc cây ô-rô, từ gốc cây này mọc lên rất nhiều cành lá uốn lượn theo mọi hướng, cùng với hoa và quả của chúng. Sức sống của cây này xuất phát từ thánh giá Chúa Giêsu, mà Hy tế của Người làm nên cuộc tái sáng tạo con người và vũ trụ. Chúa Giêsu là Ađam mới, Đấng nhờ mầu nhiệm khổ nạn, cái chết và sự Phục sinh, làm cho nhân loại được nở hoa, khi Người giao ḥa nhân loại này lại với Chúa Cha.

 

Chung quanh Đức Kitô đau khổ có mười hai con bồ câu trắng, chỉ mười hai vị Tông đồ. Dưới chân thánh giá, có Đức Maria và người môn đệ được thương mến : “Khi thấy thân mẫu và môn đệ ḿnh thương mến đứng bên cạnh, Chúa Giêsu nói với thân mẫu rằng : ‘Thưa Bà, đây là con của bà.’ Rồi Người nói với môn đệ : ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà ḿnh” (Ga 29,26-27).

 

Trên cao, xuất hiện bàn tay của Chúa Cha, trao ṿng vinh quang cho Con ḿnh, Đấng chiến thắng sự chết nhờ mầu nhiệm Vượt qua của Người.

 

Ở dưới gốc cây, một con nai con chiến đấu với con rắn của sự dữ. Cây này tượng trưng cho cây cứu độ, sản sinh ra một ḍng suối từ đó nước tuôn tràn, đem lại sức sống cho bốn con suối nhỏ biểu trưng cho bốn sách Phúc Âm, mà các tín hữu kín múc để uống, như những con nai uống suối nước hằng sống. Ở đây, Hội thánh được tŕnh bày như một vườn thiên quốc được Chúa Giêsu làm cho sinh động, Người chính thực là cây sự sống.

 

Đại thánh đường Thánh Clêmentê, Rôma, Tranh ghép đá ở tiền đ́nh, thế kỷ XII, (chi tiết : Thập giá, cây sự sống). Được phục chế với phép của các cha ḍng Đaminh Ai-len

 

KINH TIN KÍNH

 

Kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ

 

Tôi tin kính Đức Chúa Trời

là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô

là Con Một Đức Chúa Cha

cùng là Chúa chúng tôi.

Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần

mà Người xuống thai,

sinh bởi bà Maria đồng trinh,

chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,

chịu đóng đinh trên cây thánh giá,

chết và táng xác,

xuống ngục tổ tông,

ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,

lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng,

ngày sau bởi trời lại xuống

phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.

Tôi tin có Hội thánh hằng có ở khắp thế này,

các Thánh thông công.

Tôi tin phép tha tội.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

Tôi tin hằng sống vậy. Amen.

 

Kinh Tin Kính Nicea-Constantinopoli

 

Tôi tin kính một Thiên Chúa

là Cha toàn năng,

Đấng tạo thành trời đất,

muôn vật hữu h́nh và vô h́nh.

Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô,

Con Một Thiên Chúa,

sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.

Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa,

Ánh sáng bởi Ánh sáng,

Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,

được sinh ra mà không phải được tạo thành,

đồng bản thể với Đức Chúa Cha :

nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

V́ loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta,

Người đă từ trời xuống thế.

Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần,

Người đă nhập thể trong ḷng Trinh Nữ Maria

và đă làm người.

Người chịu đóng đinh vào thập giá v́ chúng ta,

thời quan Phongxiô  Philatô;

Người chịu khổ h́nh và mai táng,

ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.

Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha,

và Người sẽ lại đến trong vinh quang

để phán xét kẻ sống và kẻ chết,

Nước Người sẽ không bao giờ cùng.

Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần

là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống,

Người bởi Đức Chúa Cha

và Đức Chúa Con mà ra.

Người được phụng thờ và tôn vinh

cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con :

Người đă dùng các tiên tri mà phán dạy.

Tôi tin Hội thánh duy nhất, thánh thiện,

công giáo và tông truyền.

Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa để tha tội.

Tôi trông đợi kẻ chết sống lại

và sự sống đời sau. Amen.

 

 

 

 

 

CHƯƠNG MỘT

TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA

    

Những bản tuyên xưng đức tin

 

33.  Những bản tuyên xưng đức tin là ǵ ?

185-188

192, 197

Đó là những công thức ngắn gọn, c̣n được gọi là “những bản tuyên xưng đức tin” hay “Kinh Tin Kính,” qua đó Hội thánh, ngay từ thuở ban đầu, đă diễn tả đức tin của ḿnh một cách tổng hợp và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hoá và chung cho mọi tín hữu.

 

34.  Những bản tuyên xưng đức tin cổ nhất là những bản nào ?

189-191

Những bản tuyên xưng đức tin cổ xưa nhất là những Kinh Tin Kính khi cử hành Bí tích Rửa tội. V́ Bí tích Rửa tội được ban “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19), nên các chân lư đức tin mà các người lănh nhận Bí tích Rửa tội tuyên xưng, được phân chia theo ba Ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.

 

35.  Những bản tuyên xưng đức tin quan trọng nhất là những bản nào ?

193-195

Những bản quan trọng nhất là :

-         Kinh Tin Kính của các Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa nhất dùng khi cử hành Bí tích Rửa tội của Giáo hội Rôma;

-         Kinh Tin Kính Công Đồng Nicea-Constantinopoli, là kết quả của hai Công Đồng Chung đầu tiên, tại Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381).

Hai bản này vẫn c̣n là hai bản chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Đông phương và Tây phương.

 

 

 “TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG,

DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT”

 

 

36.  Tại sao bản tuyên xưng đức tin được khởi đầu bằng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời” ?

198-199

Bởi v́ xác quyết “Tôi tin kính Đức ChúaTrời” là điều quan trọng nhất. Xác quyết này là nguồn gốc của mọi chân lư khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của những ai tin Thiên Chúa.

 

37.  Tại sao chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất ?

200-202
228

Bởi v́ Thiên Chúa đă mạc khải cho dân Israel biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài nói : “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất” (Đnl 6,4). “Ta là Thiên Chúa, chẳng c̣n chúa nào khác” (Is 45,22). Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận điều này : Thiên Chúa là “Đức Chúa duy nhất” (Mc 12,29). Tuyên xưng Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đức Chúa, không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa duy nhất. 

 

38.  Thiên Chúa tự mạc khải với danh thánh nào ?

203-205
230-231

Thiên Chúa đă mạc khải chính ḿnh cho Môsê là Thiên Chúa hằng sống, “Thiên Chúa của Ábraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6). Ngài cũng mạc khải Danh Thánh huyền nhiệm của Ngài cho ông : “Ta là Đấng Hằng Hữu” (YHWH). Ngay từ thời Cựu Ước, Danh Thánh của Thiên Chúa không được phép đọc lên, nên phải thay thế bằng thuật ngữ Đức Chúa. Như vậy trong Tân Ước, Chúa Giêsu được người ta gọi là Đức Chúa, tức là được nh́n nhận là Thiên Chúa thật.

 

39.   Có phải chỉ một ḿnh Thiên Chúa “hiện hữu” không ?

212-213

Trong khi tất cả mọi thụ tạo đều lănh nhận từ Thiên Chúa tất cả những ǵ chúng có và hiện hữu, chỉ Thiên Chúa mới tự ḿnh hiện hữu một cách trọn vẹn và tuyệt hảo. Ngài là “Đấng hằng hữu,” không có khởi đầu và cũng chẳng có cùng tận. Chúa Giêsu cũng mạc khải rằng Người mang Danh Thánh : “Ta là Đấng hằng hữu” (Ga 8,28).

 

40.  Tại sao việc Mạc khải Danh Thánh Thiên Chúa là điều quan trọng ?

206-213

Qua việc Mạc khải Danh Thánh, Thiên Chúa cho thấy sự phong phú chất chứa trong mầu nhiệm khôn lường của Ngài. Chỉ ḿnh Ngài hiện hữu từ muôn thuở và cho đến muôn đời. Ngài siêu việt trên vũ trụ và lịch sử. Chính Ngài là Đấng tạo thành trời đất. Ngài là Thiên Chúa trung tín, luôn gần gũi với dân để cứu độ họ. Ngài là Đấng Thánh tuyệt hảo, “giàu ḷng nhân hậu” (Ep 2,4), luôn sẵn sàng tha thứ. Ngài là Hữu Thể thiêng liêng, siêu việt, toàn năng, vĩnh cửu, ngôi vị, trọn hảo. Ngài là chân lư và t́nh yêu.

 

“Thiên Chúa là Hữu Thể tuyệt hảo vô tận, là Ba Ngôi cực thánh.” (thánh Turibius thành Montenegro)

 

41.  Phải hiểu “Thiên Chúa là chân lư” như thế nào ?

214-217
231

Thiên Chúa là chính Chân lư;  và do đó, Ngài không tự dối gạt ḿnh cũng không dối gạt ai. Ngài là “Ánh sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5). Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, là sự Khôn Ngoan nhập thể, đă được sai đi vào thế gian “để làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37).

 

42.  Thiên Chúa mạc khải Ngài là T́nh Yêu như thế nào ?

218-221

Thiên Chúa tự mạc khải cho dân Israel rằng Ngài là Đấng có một t́nh yêu mạnh mẽ hơn t́nh yêu của cha mẹ đối với con cái hoặc của vợ chồng đối với nhau. Tự bản chất, Thiên Chúa “là T́nh Yêu” (1 Ga 4, 8.16), Ngài tự hiến ban ḿnh cách trọn vẹn và nhưng không, Ngài “yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, […] để nhờ Con Ngài, mà thế gian được cứu độ” (Ga 3,16-17). Khi sai phái Con Ngài và Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài là sự trao đổi t́nh yêu vĩnh cửu.

 

43.  Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm những ǵ ?

222-227
229
  

Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm việc nhận biết sự vĩ đại và quyền năng của Ngài, sống trong sự cảm tạ, luôn tin tưởng vào Ngài, cả khi gặp nghịch cảnh, nhận biết sự hợp nhất và phẩm giá đích thực của mọi người, đă được sáng tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa, và sử dụng cách đúng đắn những ǵ Thiên Chúa đă dựng nên.

 

44.  Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là ǵ ?

232-237   

Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh. Các người Kitô hữu được Rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

 

45.  Chỉ dùng lư trí, con người có thể nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi hay không ?

237

Thiên Chúa đă để lại những dấu vết về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công tŕnh tạo dựng và trong Cựu Ước, nhưng đời sống nội tại của Ba Ngôi chí thánh vẫn là một mầu nhiệm mà lư trí thuần túy của con người không thể nào đạt đến được, và ngay cả đức tin của Israel cũng không thể biết mầu nhiệm đó, trước thời Con Thiên Chúa nhập thể và Chúa Thánh Thần được gởi đến. Mầu nhiệm này đă được Đức Giêsu Kitô mạc khải và là nguồn gốc của tất cả các mầu nhiệm khác.

 

46.  Chúa Giêsu đă mạc khải cho chúng ta điều ǵ về mầu nhiệm Chúa Cha ?

240-242

Đức Giêsu Kitô mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa là “Cha”, không những v́ Ngài là Đấng sáng tạo vũ trụ và con người, nhưng trên hết, từ đời đời Ngài đă sinh ra Chúa Con tự ḷng ḿnh, Đấng là Ngôi Lời, là “phản ánh vẻ huy hoàng, là h́nh ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3).

 

47.  Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giêsu đă mạc khải cho chúng ta, là ai ?

243-248

Ngài là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi cực thánh. Ngài là Thiên Chúa, hợp nhất và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con. Ngài “xuất phát từ Chúa Cha” (Ga 15,26), Đấng là nguyên lư không có khởi đầu, là nguồn gốc trọn vẹn cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần cũng xuất phát từ Chúa Con (Filioque), v́ Chúa Cha đă trao ban Ngài cho Chúa Con như Ân ban vĩnh cửu. Được Chúa Cha và Chúa Con nhập thể sai phái, Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội thánh đến sự nhận biết “Chân lư trọn vẹn” (Ga 16,13).

 

48.  Hội thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào ?

249-256
266

Hội thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi khi tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mà Ngài có Ba Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi vị thần linh chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, v́ mỗi Ngôi vị đều có trọn vẹn bản thể duy nhất và không thể phân chia của Thiên Chúa. Ba Ngôi thực sự phân biệt giữa nhau qua các liên hệ tương quan với nhau. Chúa Cha sinh Chúa Con; Chúa Con được Chúa Cha sinh ra; Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con.

  

49.  Các Ngôi vị Thiên Chúa hoạt động như thế nào ?

257-260
267

Ba Ngôi vị thần linh không thể tách rời nhau trong cùng một bản thể duy nhất, th́ cũng không thể tách rời trong các hoạt động của ḿnh. Ba Ngôi có cùng một hoạt động duy nhất . Tuy nhiên, trong hoạt động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị hiện diện theo cách đặc thù của ḿnh trong Ba Ngôi.

 

“Lạy Thiên Chúa của con, Lạy Ba Ngôi con tôn thờ . . . xin ban b́nh an cho linh hồn con, xin biến  linh hồn con thành thiên đàng của Chúa, nơi trú ngụ dễ mến và nơi yên nghỉ của Chúa. Không bao giờ con muốn bỏ mặc Chúa một ḿnh, nhưng con sẽ trọn vẹn ở đó, tỉnh thức trong đức tin, hoàn toàn thờ lạy, và hoàn toàn phó thác vào hoạt động sáng tạo của Chúa.” (Chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi)   

 

50.  Thiên Chúa toàn năng nghĩa là ǵ ?

268-278

Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài là “Đấng mạnh mẽ, oai hùng” (Tv 23 [24],8), Đấng “không có ǵ là không thể làm được” (Lc 1,37). Sự toàn năng của Ngài là phổ quát, và mầu nhiệm. Sự toàn năng này được biểu lộ trong việc sáng tạo vũ trụ từ hư vô và sáng tạo con người v́ t́nh yêu, nhưng nhất là trong mầu nhiệm Nhập thể và trong sự Phục sinh Con của Ngài, trong hồng ân đón nhận chúng ta làm nghĩa tử và thứ tha tội lỗi. V́ thế, Hội thánh dâng lời cầu nguyện lên “Thiên Chúa toàn năng và vĩnh cửu” (“Omnipotens sempiterne Deus…”).

 

51.  Tại sao việc khẳng định rằng : “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa dựng nên trời và đất” (St 1,1) lại rất quan trọng ?

279-289
315

Bởi v́ việc tạo dựng là nền tảng cho tất cả dự định cứu độ của Thiên Chúa. Tạo dựng là việc biểu lộ t́nh yêu toàn năng và khôn ngoan của Thiên Chúa; đó là bước đầu tiên hướng đến Giao ước của Thiên Chúa duy nhất với dân Ngài; đó là khởi điểm của lịch sử cứu độ, lịch sử này đạt tới chóp đỉnh nơi Chúa Giêsu; đó là câu trả lời đầu tiên cho các vấn nạn căn bản của con người về nguồn gốc và cùng đích của ḿnh.

 

52.  Ai đă tạo dựng vũ trụ ?

290-292
316

Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là nguyên lư duy nhất và không thể phân chia của việc tạo dựng, mặc dù công tŕnh tạo dựng vũ trụ được đặc biệt gán cho Chúa Cha.

 

53.  Vũ trụ được dựng nên để làm ǵ ?

293-294
319

Vũ trụ được dựng nên để tôn vinh Thiên Chúa, Đấng đă muốn biểu lộ và thông ban ḷng nhân hậu, chân lư và vẻ đẹp của Ngài. Mục đích tối hậu của việc tạo dựng là để Thiên Chúa, trong Đức Kitô, “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28), v́ vinh quang của Ngài và hạnh phúc của chúng ta.

 

 “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống và sự sống của con người là được nh́n thấy Thiên Chúa” (Thánh Irênê).

 

54.  Thiên Chúa đă sáng tạo vũ trụ như thế nào ?

295-301
317-320

Thiên Chúa đă sáng tạo vũ trụ cách tự do, bằng sự khôn ngoan và t́nh yêu. Vũ trụ không phải là sản phẩm của một luật tất yếu nào đó, của một định mệnh mù quáng hoặc bởi ngẫu nhiên. Thiên Chúa đă sáng tạo “từ hư vô” (ex nihilo; 2 Mcb 7,28), một thế giới được sắp xếp trật tự và tốt lành, nhưng Ngài vô cùng cao cả siêu việt trên mọi loài. Ngài ǵn giữ vạn vật trong sự hiện hữu, nâng đỡ và ban cho nó khả năng hoạt động và hướng dẫn nó đến sự trọn hảo nhờ Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 

55.  Sự Quan pḥng của Thiên Chúa là ǵ ?

302-306
321

Sự Quan pḥng của Thiên Chúa là những sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa hướng dẫn các thụ tạo của ḿnh đến chỗ hoàn hảo mà Ngài đă định cho chúng. Thiên Chúa là tác giả tối cao của kế hoạch Ngài; nhưng để thực hiện kế hoạch đó, Ngài cũng sử dụng sự cộng tác của các thụ tạo. Đồng thời, Ngài ban cho chúng phẩm giá là tự hoạt động và trở thành nguyên nhân cho nhau.

 

56.  Con người cộng tác vào sự Quan pḥng của Thiên Chúa như thế nào ?

307-308
323

Tuy tôn trọng tự do của con người, nhưng Thiên Chúa ban cơ hội và đ̣i hỏi con người cộng tác với Ngài qua hành động, kinh nguyện và cả sự đau khổ của họ, khi gợi lên trong họ “ước muốn cũng như hành động theo ḷng nhân hậu của Ngài” (Pl 2,13).

 

57. Nếu Thiên Chúa toàn năng và quan pḥng, tại sao lại có sự dữ ?

309-310
324, 400

Chỉ có toàn bộ đức tin Kitô giáo mới có thể trả lời cho câu hỏi vừa bi thảm vừa mầu nhiệm này. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ, dù trực tiếp hay gián tiếp. Ngài làm sáng tỏ mầu nhiệm sự dữ nhờ Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, Đấng đă chết và đă sống lại để chiến thắng sự dữ luân lư to lớn là tội lỗi của con người, nguồn gốc của tất cả những sự dữ khác.

    

58. Tại sao Thiên Chúa lại cho phép sự dữ xuất hiện ?

311-314
324

Đức tin giúp chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa đă không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó. Điều này Thiên Chúa đă thực hiện cách tuyệt vời trong cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Thật vậy, từ sự dữ luân lư lớn  nhất, là cái chết của Con Ngài, Ngài đă rút ra những điều thiện hảo vĩ đại nhất, đó là việc tôn vinh Đức Kitô và là ơn cứu độ chúng ta.

 

Trời và Đất

 

59. Thiên Chúa đă tạo dựng những ǵ ?

325-327

Thánh Kinh nói : “Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Trong bản tuyên xưng đức tin, Hội thánh công bố Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo muôn vật hữu h́nh và vô h́nh, mọi loài thiêng liêng và vật chất, nghĩa là các thiên thần và thế giới hữu h́nh, và đặc biệt nhất là con người.

 

60. Các thiên thần là ai ?

328-333
350-351

Các thiên thần là những thụ tạo thiêng liêng, không có thân xác, vô h́nh và bất tử; đó là những hữu thể có ngôi vị, có lư trí và ư chí. Họ không ngừng chiêm ngắm Thiên Chúa diện đối diện và tôn vinh Thiên Chúa; các ngài phục vụ Thiên Chúa và là những sứ giả của Ngài để thực hiện sứ vụ cứu độ loài người.

 

61.    Các thiên thần hiện diện trong đời sống của Hội thánh như thế nào ?

 

Hội thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa; Hội thánh kêu cầu sự trợ giúp của các ngài và trong phụng vụ, Hội thánh kính nhớ một số vị trong các ngài.

 

“Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một thiên thần như Đấng bảo trợ và mục tử, hướng dẫn họ đến sự sống” (Thánh Basiliô cả).

 

62.    Thánh Kinh dạy ǵ về việc tạo dựng thế giới hữu h́nh ?

337-344

Qua chuyện kể “sáu ngày” tạo dựng, Thánh Kinh cho chúng ta biết giá trị của thế giới thụ tạo, và mục đích của nó là để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ con người. Mọi vật hiện hữu là nhờ Thiên Chúa, tất cả đều lănh nhận từ Thiên Chúa sự tốt lành và hoàn hảo, lề luật và vị trí của ḿnh trong vũ trụ.

 

63.    Đâu là vị trí của con người trong công tŕnh tạo dựng ?

343-344
353

Con người là chóp đỉnh của các thụ tạo hữu h́nh, v́ được dựng nên theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa. 

 

64.    Các thụ tạo liên hệ với nhau như thế nào ?

342
354

Giữa các thụ tạo có mối liên hệ với nhau và một phẩm trật theo ư Thiên Chúa. Đồng thời cũng có một sự hợp nhất và liên đới giữa các thụ tạo, v́ tất cả đều có cùng một Đấng Sáng Tạo, tất cả đều được Ngài yêu mến và được sắp xếp để tôn vinh Ngài. V́ thế, tôn trọng những lề luật đă được khắc ghi trong công tŕnh tạo dựng và những mối tương quan phát xuất từ bản tính của mọi vật, là một nguyên tắc khôn ngoan và là một nền tảng của luân lư.

 

65.     Đâu là mối liên hệ giữa công tŕnh sáng tạo và công tŕnh cứu chuộc ?

345-349

Công tŕnh sáng tạo đạt tới tột đỉnh trong một công tŕnh c̣n vĩ đại hơn nữa, là công tŕnh cứu chuộc. Thật vậy, công tŕnh cứu chuộc là khởi điểm cho công tŕnh sáng tạo mới, trong đó tất cả sẽ t́m được ư nghĩa trọn vẹn và sự viên măn của ḿnh.

 

Con người

 

66.    Phải hiểu “Con người được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa” theo nghĩa nào ?

355-357

Con người được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa theo nghĩa họ có khả năng nhận biết và yêu mến một cách tự do Đấng Sáng Tạo nên ḿnh. Trên mặt đất, chỉ có con người là thụ tạo đă được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ và mời gọi họ tham dự vào đời sống thần linh của Ngài nhờ nhận biết và yêu thương. V́ được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị; họ không phải là một sự vật, nhưng là một con người có khả năng nhận thức về bản thân ḿnh, tự hiến ḿnh cách tự do và đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân. 

 

67.    Thiên Chúa dựng nên con người với mục đích ǵ ?

358-359
381

 Thiên Chúa đă dựng nên tất cả cho con người, nhưng con người được dựng nên để nhận biết, phục vụ và yêu mến Thiên Chúa; hầu ở trần gian, họ dâng lên Thiên Chúa mọi thụ tạo mà tạ ơn Ngài, nhờ đó họ sẽ được nâng lên trời sống với Thiên Chúa. Chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập thể mà mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ. Con người được tiền định để phản ánh h́nh ảnh của Con Thiên Chúa làm người, Đấng là “h́nh ảnh trọn hảo của Thiên Chúa vô h́nh” (Cl 1,15).

 

68.    Tại sao loài người tạo thành một sự thống nhất ?

360-361

Tất cả mọi người tạo thành sự thống nhất của ḍng giống loài người, v́ họ có cùng một nguồn gốc, được lănh nhận từ nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, Thiên Chúa, “đă tạo thành toàn thể nhân loại từ một người duy nhất” (Cv 17,26). Tất cả đều có một Đấng Cứu Độ duy nhất. Tất cả đều được mời gọi dự phần vào hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên Chúa.

 

69.    Trong con người, linh hồn và thân xác tạo thành một sự thống nhất như thế nào ?

362-365
382
 

Con người là một hữu thể vừa thể xác, lại vừa tinh thần. Trong con người, tinh thần và vật chất tạo thành một bản thể duy nhất. Sự thống nhất này rất sâu xa đến độ, nhờ nguyên lư tinh thần là linh hồn mà thể xác, vốn là vật chất, trở thành một thân xác con người sống động, và được dự phần vào phẩm giá “là h́nh ảnh của Thiên Chúa.”

 

70.    Ai ban linh hồn cho con người ?

366-368
382

Linh hồn thiêng liêng và bất tử không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách trực tiếp. Linh hồn ĺa khỏi thân xác lúc người ta chết, nhưng linh hồn không chết. Linh hồn sẽ tái hợp với thân xác trong ngày sống lại sau hết.

 

71.    Thiên Chúa đă thiết lập mối liên hệ nào giữa người nam và người nữ?

369-373
383

Người nam và người nữ được Thiên Chúa dựng nên với một phẩm giá ngang nhau là những nhân vị, và đồng thời họ bổ túc cho nhau trong tư cách là nam và nữ. Thiên Chúa đă muốn tạo dựng họ cho nhau, làm nên một sự hiệp thông các bản vị. Cả hai cùng được mời gọi truyền lại sự sống con người trong hôn nhân, khi cả hai trở nên “một xương một thịt” (St 2,24) và làm chủ trái đất như những “người quản lư” của Thiên Chúa.

 

72.    T́nh trạng nguyên thủy của con người theo kế hoạch của Thiên Chúa là ǵ ?

374-379
384

Khi sáng tạo người nam và người nữ, Thiên Chúa đă cho họ tham dự cách đặc biệt vào đời sống thần linh của Ngài, trong sự thánh thiện và công chính. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, con người sẽ không phải đau khổ, cũng không phải chết. Ngoài ra, có một sự hài ḥa tuyệt hảo nơi chính con người, giữa thụ tạo với Đấng Sáng tạo, giữa người nam với người nữ, cũng như giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể thụ tạo.   

 

Sự Sa Ngă

 

73.    Làm thế nào để hiểu được thực tại của tội lỗi ?

385-389

Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người. Một thực tại như thế chỉ được hiểu biết cách đầy đủ dưới ánh sáng Mạc khải của Thiên Chúa, và nhất là dưới ánh sáng của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ mọi người, Đấng tuôn đổ ân sủng thật sung măn bất cứ nơi nào tràn đầy tội lỗi.   

 

74.    Sự sa ngă của các thiên thần là ǵ ?

391-395
414

Với cách diễn tả này, người ta muốn nói rằng Satan và các ma quỉ khác, được Thánh Kinh và Thánh truyền nói đến, vốn là các thiên thần tốt lành do Thiên Chúa dựng nên, nhưng đă trở thành ác xấu, bởi v́, qua việc chọn lựa tự do và dứt khoát, chúng từ chối Thiên Chúa và Vương quyền của Ngài và như thế làm phát sinh ra hỏa ngục. Chúng cố gắng lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn chống lại Thiên Chúa;  nhưng trong Đức Kitô, Thiên Chúa xác nhận chiến thắng chắc chắn của Ngài trên Ác thần.

 

75.    Tội đầu tiên của con người cốt tại điều ǵ ?

396-403
415-417

Con người, bị ma quỷ cám dỗ, đă dập tắt trong trái tim ḿnh sự tin tưởng vào những liên hệ với Đấng Sáng Tạo của ḿnh. Khi không tuân phục Thiên Chúa, con người muốn trở nên “như Thiên Chúa,” không nh́n nhận Thiên Chúa và không c̣n căn cứ vào Thiên Chúa nữa (St 3,5). Như thế, Ađam và Evà lập tức đánh mất ân sủng của sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy cho bản thân và tất cả con cháu họ. 

 

76.     Tội tổ tông truyền là ǵ ?

404
419

Mọi người đều bị sinh ra trong nguyên tội. Nguyên tội là t́nh trạng thiếu vắng ơn thánh sủng và sự công chính nguyên thủy. Đó là một tội mà chúng ta “vướng mắc” chứ không phải là một tội mà chúng ta vấp phạm ; đó là t́nh trạng lúc chào đời chứ không phải là một hành vi cá nhân. Do sự thống nhất của toàn thể loài người, tội này được truyền lại cho con cháu của Ađam trong bản tính loài người, “không phải do bắt chước, nhưng là qua truyền sinh.” Việc truyền đạt này là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu được cách trọn vẹn.

   

77.    Những  hậu quả khác do nguyên tội gây nên là ǵ ?

  405-409
418

Sau khi tổ tông đă phạm tội, bản tính con người không hoàn toàn bị hủy hoại, nhưng bị thương tật trong các sức lực tự nhiên của ḿnh, chịu sự u mê, đau khổ và nằm dưới quyền lực sự chết; bản tính con người bị nghiêng chiều về tội lỗi. Sự nghiêng chiều này được gọi là dục vọng (concupiscentia).

 

78.    Thiên Chúa đă làm ǵ sau tội đầu tiên của con người ?

410-412
420

Sau tội đầu tiên, thế gian đă bị tràn ngập tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă không bỏ rơi con người dưới quyền lực sự chết. Trái lại, Ngài đă tiên báo cách mầu nhiệm – trong “Tiền Tin Mừng” (x. St 3,15)– rằng sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sẽ được nâng dậy khỏi sự sa ngă của họ. Đó là lời tiên báo đầu tiên về Đấng Mêsia cứu chuộc. V́ thế, chúng ta đă gọi sự sa ngă là “tội hồng phúc(felix culpa), v́ “nhờ có ngươi, ta mới có được Đấng Cứu Chuộc cao cả dường này” (Phụng Vụ đêm Vọng Phục sinh).

 

 

 

CHƯƠNG HAI

TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ,

CON MỘT THIÊN CHÚA

 

79.    Tin Mừng cho con người là ǵ ?

422-424

Tin Mừng là lời loan báo về Đức Giêsu Kitô, “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Đấng đă chết và đă sống lại. Vào thời vua Hêrôđê và Hoàng Đế Xêdarê Augustô, Thiên Chúa đă thực hiện những lời Ngài đă hứa với Ábraham và ḍng dơi qua việc Ngài đă sai “Con Ḿnh tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4,4-5).

 

80.    Tin Mừng này được loan truyền như thế nào ?

425-429

Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đă khao khát loan báo Đức Giêsu Kitô, nhằm làm cho mọi người tin vào Người. Ngày nay cũng thế, sự hiểu biết say mê Đức Kitô làm nẩy sinh nơi các tín hữu niềm khao khát rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lư, nghĩa là giúp mọi người nhận thấy tất cả kế hoạch của Thiên Chúa trong con người Chúa Giêsu và dẫn đưa nhân loại đến hiệp thông với Người.

 

“TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ,

LÀ CON MỘT ĐỨC CHÚA CHA, CÙNG LÀ CHÚA CHÚNG TÔI”

 

81.    Danh thánh  “Giêsu” nghĩa là ǵ ?

430-435
452

Danh thánh Giêsu, được thiên thần gọi ngay từ lúc Truyền tin, có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”. Danh thánh này nói lên căn tính và sứ mạng của Chúa Giêsu, v́ “chính Người sẽ cứu dân ḿnh khỏi tội” (Mt 1,21). Thánh Phêrô khẳng định rằng “dưới gầm trời này không có danh nào khác đă được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).

 

82.    Tại sao Chúa Giêsu lại được gọi là “Đấng Kitô” ?

436-440
453

“Kitô” là tiếng Hy Lạp, c̣n “Mêsia” là tiếng Hypri, có nghĩa là “được xức dầu”. Chúa Giêsu là Đấng Kitô v́ Người được Thiên Chúa thánh hiến, được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần để đảm nhận sứ mạng cứu chuộc của Người. Người là Đấng Mêsia mà dân Israel mong đợi, được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Giêsu đă chấp nhận tước hiệu Mêsia, nhưng đă xác định rơ ràng ư nghĩa tước hiệu này : “từ trời xuống” (Ga 3,13), chịu đóng đinh và rồi sống lại, Người là Tôi Trung Đau Khổ, “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Từ tước hiệu Kitô này, chúng ta được mang danh hiệu là người Kitô hữu.

 

 

83.    Chúa  Giêsu là “Con Một Thiên Chúa” theo ư nghĩa nào ?

441-445
454

Chúa Giêsu là “Con Một Thiên Chúa” theo một ư nghĩa duy nhất và trọn hảo. Vào lúc Người chịu phép rửa và trong cuộc Hiển Dung, tiếng của Chúa Cha cho thấy Chúa Giêsu là “Con yêu dấu” của Ngài. Khi Chúa Giêsu tự giới thiệu ḿnh là Con, chỉ ḿnh Người “biết Chúa Cha” (Mt 11,27), Người khẳng định mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của ḿnh với Thiên Chúa là Cha của Người. “Người là Con duy nhất của Thiên Chúa” (1 Ga 4,9), là Ngôi Hai trong Ba Ngôi. Người là trung tâm của lời rao giảng của các thánh Tông đồ : các Tông đồ đă thấy “vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một” (Ga 1,14).

 

84.    Tước hiệu “Đức Chúa” có ư nghĩa ǵ ?

446-451
455

Trong Thánh Kinh, thường tước hiệu này để chỉ Thiên Chúa tối cao. Chúa Giêsu tự nhận cho ḿnh tước hiệu này và mạc khải quyền tối thượng thần linh của Người qua quyền năng của Người trên thiên nhiên, trên ma quỉ, trên tội lỗi và trên cái chết, và nhất là qua cuộc phục sinh của Người. Những tuyên xưng đầu tiên của các người Kitô hữu công bố quyền năng, danh dự và vinh quang dành cho Thiên Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giêsu, Đấng mà Thiên Chúa “đă ban tặng danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2,9). Người là Đức Chúa của trần gian và của lịch sử, là Đấng duy nhất mà mọi người, với sự tự do của ḿnh, phải hoàn toàn tùng phục.

 

“BỞI PHÉP ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN

MÀ NGƯỜI XUỐNG THAI SINH BỞI BÀ MARIA ĐỒNG TRINH”

 

85.    Tại sao Con Thiên Chúa làm người ?

456-460

Con Thiên Chúa đă nhập thể trong ḷng Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, v́ loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, có nghĩa là để chúng ta, là những kẻ tội lỗi, được giao ḥa với Thiên Chúa, để cho chúng ta biết được t́nh thương vô bờ bến của Ngài, để trở nên mẫu gương cho chúng ta về sự thánh thiện và để làm cho chúng ta trở thành những người  “được thông phần bản tính Thiên Chúa ( 2 Pr 1,4).

 

86.     Hai tiếng “Nhập Thể” có nghĩa là ǵ ?

461-463
483

Hội thánh dùng từ “Nhập Thể” để gọi mầu nhiệm của sự kết hợp tuyệt vời của thần tính và nhân tính trong Ngôi vị thần linh duy nhất của Ngôi Lời. Để thực hiện công cuộc cứu rỗi chúng ta, Con Thiên Chúa đă hóa thành “xác thể” (Ga 1,14), trở thành con người thật. Đức tin vào mầu nhiệm Nhập thể là dấu chỉ phân biệt của niềm tin Kitô giáo.

 

87.    Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật như thế nào ?

464-467
469

Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, không thể tách rời nhau trong sự duy nhất của Ngôi vị Thiên Chúa của Người. Chính Người là Con Thiên Chúa, là Đấng “được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha”, Người thật sự trở thành con người, trở thành anh em của chúng ta, tuy không ngừng là Thiên Chúa, là Đức Chúa của chúng ta.

 

88.    Công đồng Chalcedonia (năm 451) dạy ǵ về vấn đề này ?

 467

Công đồng Chalcedonia dạy chúng ta phải tuyên xưng : “một Chúa Con duy nhất, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Người hoàn hảo trong thần tính, Người cũng hoàn hảo trong nhân tính, thật sự là Thiên Chúa và thật sự là người, có một linh hồn có lư trí và một thân xác, đồng bản thể với Chúa Cha theo thần tính mà cũng đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính, “giống chúng ta về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,15), sinh bởi Đức Chúa Cha theo thần tính từ trước muôn đời, và trong những ngày cuối cùng này, v́ chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính từ Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.”

 

89.    Hội thánh diễn tả mầu nhiệm Nhập thể như thế nào ?

464-469
479-481

Hội thánh diễn tả mầu nhiệm này khi xác quyết rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật, với hai bản tính là thần tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng kết hợp trong Ngôi Lời. V́ thế, trong nhân tính của Chúa Giêsu, tất cả – các phép lạ, đau khổ và cái chết – đều được qui về Ngôi vị thần linh của Người, Đấng hoạt động qua nhân tính mà Ngôi vị này đảm nhận.

 

“Ôi Con duy nhất và là Ngôi Lời của Thiên Chúa, dù bất tử, nhưng để cứu rỗi chúng con, Chúa đă nhập thể nơi Đức Maria, Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và măi măi đồng trinh… Chúa là Một trong Ba Ngôi chí thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con!” (Phụng vụ Byzantin của thánh Gioan Kim Khẩu)

 

90.    Có phải Con Thiên Chúa làm người có một linh hồn với tri thức nhân loại không ?

470-474
482

Con Thiên Chúa đă đón nhận một thân xác được một linh hồn nhân loại có tri thức làm cho sinh động. Với tri thức nhân loại, Chúa Giêsu đă học hỏi nhiều qua kinh nghiệm. Nhưng cũng với tư cách là con người, Con Thiên Chúa có một sự hiểu biết thâm sâu và trực tiếp về Thiên Chúa, Cha của Người. Người cũng nh́n thấu những tư tưởng thầm kín của con người và hiểu biết đầy đủ các ư định muôn thuở mà Người đến để mạc khải.

 

91.    Hai ư muốn nơi Ngôi Lời nhập thể hợp tác với nhau như thế nào ?

475
482

Chúa Giêsu có một ư muốn của Thiên Chúa và một ư muốn của con người. Trong cuộc sống nơi trần gian, Con Thiên Chúa đă muốn làm theo con người điều mà Người đă quyết định theo thần tính với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần về ơn cứu độ chúng ta. Ư muốn nhân loại của Đức Kitô luôn theo ư muốn thần linh, không miễn cưỡng, không đối kháng, và hơn nữa, ư muốn nhân loại của Người đă tùng phục ư muốn thần linh. 

 

92.    Đức Kitô có một thân xác con người thật không ?

476-477

Đức Kitô đă đón nhận một thân xác thật sự của con người, qua đó Thiên Chúa vô h́nh đă trở nên hữu h́nh. V́ thế, Đức Kitô có thể được tŕnh bày và tôn kính qua các ảnh tượng thánh.

 

93.    Trái tim của Đức Kitô nói lên điều ǵ ?

478

Đức Kitô biết và yêu thương chúng ta bằng một trái tim của con người. Trái tim của Người bị đâm thâu để cứu độ chúng ta, là biểu trưng cho t́nh yêu vô biên của Người đối với Chúa Cha và đối với tất cả mọi người.  

 

94.    Câu “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai…” có ư nghĩa ǵ ?

484-486

Câu này muốn nói lên rằng Đức Trinh Nữ Maria đă thụ thai trong ḷng ḿnh Người Con Vĩnh Cửu là bởi tác động của Chúa Thánh Thần chứ không có sự cộng tác của một người nam : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1,35), đó là lời thiên thần đă nói với Đức Maria lúc Truyền tin.

 

95.     “… sinh bởi Bà Maria Đồng Trinh” : tại sao Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa ?

495
509

Đức Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa bởi v́ là Mẹ của Chúa Giêsu (Ga 2,1; 19,25). Thật vậy, Đấng mà Mẹ đă cưu mang bởi tác động của Chúa Thánh Thần và đă thực sự là con của Mẹ, chính là Con hằng hữu của Thiên Chúa Cha. Chính Người là Thiên Chúa.

 

96.     “Vô Nhiễm Nguyên Tội” nghĩa là ǵ  ?

487-492
508

Từ muôn thuở và một cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đă chọn Đức Maria làm Mẹ của Con ḿnh. Để chu toàn sứ mạng này, Mẹ đă được ơn vô nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Điều này có nghĩa là, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và đón nhận trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đă được ǵn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai. 

 

97.    Đức Maria đă cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa như thế nào ?

493-494
508-511

Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Đức Maria, suốt đời vẫn tinh tuyền không hề phạm một tội riêng nào. Mẹ là “Đấng đầy ân phúc”(Lc 1,28), “Đấng rất thánh.” Khi Thiên Thần báo tin rằng Mẹ sẽ sinh “Con Đấng Tối cao” (Lc 1,32), Mẹ đă tự do chấp nhận trong “sự vâng phục của đức tin” (Rm 1,5). Đức Maria tự hiến hoàn toàn cho con người và công tŕnh của Chúa  Giêsu, Con của Mẹ, và với trọn tâm hồn Mẹ chấp nhận ư định cứu độ của Thiên Chúa.

 

98.    Việc mang thai Chúa Giêsu một cách đồng trinh có ư nghĩa ǵ ?

496-498
503

Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu được thụ thai trong ḷng Đức Trinh Nữ chỉ do quyền năng của Chúa Thánh Thần mà thôi, không có sự can thiệp của người đàn ông. Người là Con Thiên Chúa trên trời theo thần tính, là Con của Đức Maria theo nhân tính, nhưng thực sự là Con Thiên Chúa trong hai bản tính, cùng hiện diện trong một Ngôi vị duy nhất, là ngôi vị thần linh.   

 

99.    Câu “Đức Maria trọn đời đồng trinh” có ư nghĩa ǵ ?

499-507
510-511

“Đức Maria trọn đời đồng trinh” có nghĩa là Mẹ “vẫn c̣n đồng trinh khi thụ thai Con ḿnh, đồng trinh khi sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng trinh khi cho Người bú mớm, là người mẹ đồng trinh, vĩnh viễn đồng trinh” (thánh Augustinô). Khi các Phúc Âm nói về “anh chị em của Chúa Giêsu,” th́ đó là những người bà con họ hàng gần của Chúa Giêsu, theo như cách nói thông thường trong Thánh Kinh.

 

100.     Bằng cách nào t́nh mẫu tử thiêng liêng của Đức Maria mang tính phổ quát ?

501-507
511

Đức Maria chỉ có một người Con duy nhất, là Chúa Giêsu, nhưng trong Người, t́nh mẫu tử thiêng liêng của Mẹ nới rộng cho hết mọi người đă được Chúa Giêsu cứu độ. Vâng phục bên cạnh Ađam mới là Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ là bà Evà mới, bà mẹ đích thực của chúng sinh. Với t́nh yêu từ mẫu, Mẹ cộng tác vào việc sinh hạ và nuôi dưỡng họ trong trật tự ân sủng. Vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, Đức Maria là h́nh ảnh của Hội thánh, là sự thể hiện toàn hảo nhất của Hội thánh.

 

101.     “Cả cuộc đời Đức Kitô là một Mầu nhiệm” nghĩa là ǵ ?

512-521
561-562

Cả cuộc đời của Đức Kitô là một sự kiện mạc khải. Điều có thể thấy được trong cuộc đời trần thế của Người dẫn chúng ta đến Mầu nhiệm vô h́nh , nhất là Mầu nhiệm Con Thiên Chúa của Người : “Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Đàng khác, mặc dù ơn cứu độ đă được hoàn thành trọn vẹn qua thập giá và cuộc phục sinh, nhưng trọn cuộc đời của Đức Kitô là Mầu nhiệm cứu độ, v́ tất cả những ǵ Chúa Giêsu đă làm, đă nói và đă chịu đau khổ đều có mục đích là để cứu độ loài người sa ngă và để tái lập ơn gọi làm con Thiên Chúa của chúng ta.

 

102.     Các mầu nhiệm của Chúa Giêsu đă được chuẩn bị như thế nào ?

522-524

Trước hết, đă có một thời gian hy vọng lâu dài hằng bao thế kỷ, mà chúng ta cảm nhận lại khi cử hành Phụng vụ mùa Vọng. Ngoài sự chờ đợi lờ mờ mà Thiên Chúa đă đặt để trong tâm hồn các người ngoại giáo, Thiên Chúa đă chuẩn bị cho việc Con Ngài ngự đến qua Giao ước cũ, cho đến thời ông Gioan Tẩy Giả, là người cuối cùng, nhưng lại vĩ đại nhất trong số các tiên tri.

 

103.     Tin Mừng về mầu nhiệm Giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu dạy chúng ta điều ǵ ?

525-530
563-564

Vào lúc Giáng sinh, vinh quang thiên quốc được tỏ lộ trong sự yếu đuối của Hài Nhi. Việc cắt b́ Chúa Giêsu đă lănh nhận là dấu chỉ Người thuộc về dân Do Thái và tượng trưng cho Bí tích Rửa tội của chúng ta. Hiển Linh là việc Vua-Mêsia của Israel tỏ ḿnh ra cho tất cả muôn dân. Lúc dâng Chúa vào trong Đền Thờ, người ta nhận ra nơi ông Simeon và bà Anna sự chờ đợi của dân Israel, nay đến gặp gỡ Đấng Cứu Độ của ḿnh. Cuộc trốn sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội báo trước cả cuộc đời của Đức Kitô sẽ chịu nhiều bách hại. Việc Người rời bỏ Ai Cập để trở về nhắc lại cuộc xuất hành và giới thiệu Đức Kitô như ông Môsê mới : Người là Đấng giải phóng đích thực và tối hậu.

 

104.     Quăng đời ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nazareth dạy chúng ta điều ǵ ?

533-534
564

Suốt cuộc sống ẩn dật Nazareth, Chúa Giêsu đă âm thầm sống một cuộc sống b́nh thường. Như vậy, Người cho phép chúng ta hiệp thông với Người trong sự thánh thiện của đời sống thường ngày được dệt bằng lời cầu nguyện, sự đơn sơ, lao động, t́nh yêu gia đ́nh. Việc vâng phục của Người đối với Đức Maria và thánh Giuse, cha nuôi của Người, là h́nh ảnh của sự vâng phục con thảo đối với Chúa Cha của Người. Với đức tin, Đức Maria và thánh Giuse đón nhận mầu nhiệm của Chúa Giêsu, dù rằng không phải lúc nào các ngài cũng hiểu được mầu nhiệm ấy. 

 

105. Tại sao Chúa Giêsu lănh nhận phép rửa của ông Gioan để “sám hối hầu được ơn tha tội” (Lc 3,3)  ?

535-537
565

Để khởi đầu quăng đời công khai và để tham dự trước vào Phép rửa là cái chết của ḿnh, Chúa Giêsu, dù không có tội lỗi nào, và là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1,29), cũng chấp nhận liệt ḿnh vào hàng các tội nhân. Chúa Cha tuyên bố Người là “Con yêu dấu” của ḿnh (Mt 3,17) và Thánh Thần ngự xuống trên Người. Phép rửa của Chúa Giêsu là h́nh ảnh báo trước Bí tích Rửa tội của chúng ta.

    

106.     Những cơn cám dỗ của Chúa Giêsu trong sa mạc nói lên điều ǵ ?

538-540
566

Những cám dỗ Chúa Giêsu phải chịu trong sa mạc thu tóm cơn cám dỗ của Ađam trong vườn địa đàng và những cơn cám dỗ của Israel trong sa mạc. Satan cám dỗ Chúa Giêsu về sự vâng phục sứ vụ mà Chúa Cha đă trao phó. Đức Kitô, Ađam mới, đă chống lại cơn cám dỗ, và chiến thắng của Người báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn, là sự vâng phục tuyệt đối trong t́nh yêu con thảo của Người. Trong thời gian Phụng vụ Mùa Chay, Hội thánh kết hợp với Mầu nhiệm này cách đặc biệt.

 

107. Ai được mời gọi tham dự vào Nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu loan báo và thực hiện ?

541-546
567

Chúa Giêsu mời gọi mọi người tham dự vào Nước Thiên Chúa. Cả kẻ xấu xa nhất trong các tội nhân cũng được mời gọi sám hối và đón nhận ḷng thương xót vô biên của Chúa Cha. Ngay trên mặt đất này, Nước Thiên Chúa đă thuộc về những ai đón nhận với tâm hồn khiêm tốn. Những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa được mạc khải cho những người này.

 

108. Tại sao Chúa Giêsu biểu lộ Nước Trời bằng các dấu chỉ và phép lạ ?

547-550
567

Chúa Giêsu làm các dấu chỉ và phép lạ kèm theo lời của Người, để chứng tỏ rằng Nước Trời đang hiện diện nơi Người, là Đấng Mêsia. Mặc dù đă chữa lành một số bệnh nhân, Người  không đến để loại trừ mọi cái xấu ra khỏi trái đất, nhưng trước hết là để giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Cuộc chiến đấu chống lại ma quỉ báo trước rằng thập giá của Người sẽ chiến thắng “thủ lănh thế gian” (Ga 12,31).

 

109. Trong Nước Trời, Chúa Giêsu đă trao quyền hành nào cho các Tông đồ của Người ?

551-553
567

Chúa Giêsu chọn Nhóm Mười Hai, những chứng nhân tương lai cho cuộc phục sinh của Người. Người cho họ tham dự vào sứ vụ và quyền hành của Người để dạy dỗ, tha thứ tội lỗi, xây dựng và điều khiển Hội thánh. Trong Nhóm này, thánh Phêrô lănh nhận “ch́a khóa Nước Trời” (Mt 16,19) và chiếm địa vị thứ nhất, có sứ mạng ǵn giữ đức tin được toàn vẹn và củng cố các anh em ḿnh.

 

110. Việc Hiển Dung có ư nghĩa ǵ  ?

554-556
568

Trước hết, Thiên Chúa Ba Ngôi xuất hiện trong cuộc Hiển Dung : “Chúa Cha trong lời nói, Chúa Con trong nhân tính của ḿnh, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói” (thánh Tôma Aquinô). Khi gợi lên cho ông Môsê và ông Êlia về cuộc “ra đi của ḿnh” (Lc 9,31), Chúa Giêsu cho thấy rằng vinh quang của Người phải kinh qua thập giá; và Người sống trước cuộc phục sinh và cuộc trở lại trong vinh quang của Người, lúc Người “sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21).

 

“Chúa đă hiển dung trên núi và các môn đệ chiêm ngắm vinh quang Người tùy khả năng, để mai sau khi thấy Người chịu đóng đinh thập giá, họ hiểu rằng Người đă tự nguyện chịu khổ h́nh. Rồi họ sẽ loan báo cho muôn dân biết Người chính là vinh quang Chúa Cha chiếu tỏa” (Phụng Vụ Byzantin).

 

111. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Mêsia như thế nào ?

557-560
569-570

Vào thời gian đă định, Chúa Giêsu quyết lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại từ cơi chết. Với tư cách là Đức Vua-Mêsia, Đấng loan báo Vương quốc của Thiên Chúa đến, Người đi vào thành của Người, cỡi trên một con lừa. Những kẻ bé mọn đón rước Người bằng lời tung hô mà về sau được đưa vào kinh “Thánh! Thánh! Thánh!” trong Thánh Lễ : “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” (Mt 21,9). Phụng vụ Hội thánh khởi đầu Tuần Thánh bằng việc cử hành biến cố này.

 

 “ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐĂ CHỊU NẠN ĐỜI QUAN PHONGXIÔ PHILATO,

CHỊU ĐÓNG ĐINH TRÊN CÂY THÁNH GIÁ, CHẾT VÀ TÁNG XÁC”

 

112.     Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu có tầm quan trọng nào ?

571-573

Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu, bao gồm cuộc khổ nạn, cái chết, sự phục sinh và tôn vinh của Người, là trung tâm của đức tin Kitô giáo. V́ ư định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất một lần thay cho tất cả nhờ cái chết cứu độ của Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô.

 

113. Chúa Giêsu bị kết án v́ những lời buộc tội nào ?

574-576

Một số thủ lănh Israel đă kết án Chúa Giêsu chống lại Lề Luật, chống lại Đền thờ Giêrusalem và đặc biệt chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, bởi v́ Người tự tuyên bố ḿnh là Con của Thiên Chúa. Chính v́ thế họ đă nộp Người cho quan Philatô, để Người bị kết án tử h́nh.

 

114. Đâu là thái độ của Chúa Giêsu đối với Lề luật Israel ?

577-582
592

Chúa Giêsu không hủy bỏ Lề luật do Thiên Chúa trao ban cho ông Môsê trên núi Sinai, nhưng Người đă làm cho Lề luật nên trọn bằng cách đem lại cho Lề luật lời giải thích tối hậu. Người là Đấng ban hành Lề luật của Thiên Chúa, Đấng chu toàn Lề luật cách viên măn. Ngoài ra, qua cái chết đền tội trong vai tṛ Người Tôi Trung, Người hiến dâng hy tế duy nhất có khả năng cứu chuộc tất cả “tội lỗi người ta đă phạm trong thời Giao ước đầu tiên” (Dt 9,15).

 

115. Đâu là thái độ của Chúa Giêsu đối với Đền thờ Giêrusalem ?

583-586
593

Chúa Giêsu bị kết án là có thái độ thù nghịch với Đền thờ. Thực ra, Người đă tôn trọng Đền thờ như là “nhà của Cha ḿnh” (Ga 2,16). Chính tại đó Người đă giảng dạy một phần giáo huấn quan trọng của Người. Nhưng Người cũng báo trước Đền thờ sẽ bị tàn phá, trong liên hệ với cái chết của Người. Người tự giới thiệu ḿnh là nơi cư ngụ vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa loài người.

 

116.     Chúa  Giêsu có chống lại niềm tin của Israel vào Thiên Chúa duy nhất và là Đấng cứu độ hay không ?

587-591
594

Chúa Giêsu không bao giờ chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, cả khi Người hoàn tất công tŕnh của Thiên Chúa cách trọn hảo, chu toàn các lời hứa về Đấng Mêsia và đồng thời mạc khải Người ngang hàng với Thiên Chúa : đó là việc tha thứ các tội lỗi. Người mời gọi chúng ta phải tin vào Người và phải sám hối, giúp chúng ta nhận ra sự hiểu lầm bi thảm của Công nghị đă kết án Người đáng phải chết v́ lư do phạm thượng. 

 

117.     Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa  Giêsu ?

595-598

Không thể qui trách nhiệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho mọi người Do Thái thời đó, cũng như cho con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân, nghĩa là mọi người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau khổ của Đấng Cứu Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người, đặc biệt nhất là các người Kitô hữu, thường xuyên sa ngă phạm tội và vui thoả trong những điều xấu xa.

 

118.      Tại sao cái chết của Chúa Giêsu  lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa ?

599-605
619

Để tất cả chúng ta, là những kẻ đáng chết, được giao ḥa trong Đức Kitô, Thiên Chúa đă đưa ra một kế hoạch tràn đầy t́nh yêu là sai Con ḿnh đến phó ḿnh chịu  chết v́ những kẻ tội lỗi. Cái chết của Đức Kitô đă được loan báo trong Cựu Ước, đặc biệt như hy tế của Người Tôi Tớ chịu đau khổ, và đă xảy ra “theo như lời Thánh Kinh.”

 

119.     Đức Kitô đă dâng hiến ḿnh cho Chúa Cha như thế nào ?

606-609
620

Đức Kitô đă tự do dâng hiến ḿnh cho Chúa Cha, để chu toàn ư định cứu độ. Người đă trao ban sự sống “làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45). Nhờ đó, Người giao ḥa toàn thể nhân loại với Thiên Chúa. Sự đau khổ và cái chết của Người cho thấy nhân tính của Người là dụng cụ tự do và hoàn hảo để Thiên Chúa, Đấng muốn cứu độ mọi người, thể hiện t́nh yêu của Ngài.

 

120.     Việc dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly ?

610-611
621

Trong Bữa Tiệc Ly với các Tông đồ vào buổi tối truớc cuộc Khổ nạn, Chúa Giêsu đă tham dự trước, nghĩa là Người ám chỉ và thực hiện trước, việc tự nguyện dâng hiến chính ḿnh : “Đây là Ḿnh Thầy bị nộp v́ anh em” (Lc 22,19); “Đây là Máu Thầy, máu đổ ra…” (Mt 26,28). Như thế, Người vừa thiết lập Bí tích Thánh Thể như việc “tưởng nhớ” (1 Cr 11,25) đến hy tế của Người, vừa thiết lập các Tông đồ của Người thành những tư tế của Giao ước mới.

 

121.     Điều ǵ đă xảy ra trong cơn hấp hối nơi vườn Giếtsêmani ?

612

Mặc dầu nhân tính rất thánh của Đấng là “Tác giả sự sống” (Cv 3,15) đă khiếp sợ sự chết, nhưng ư chí nhân loại của Con Thiên Chúa vẫn tùng phục thánh ư Chúa Cha : để cứu độ chúng ta, Chúa Giêsu chấp nhận gánh lấy tội lỗi chúng ta trong thân xác ḿnh, Người “vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết” (Pl 2,8).

 

122.           Hiệu quả hy tế của Đức Kitô trên thập giá là ǵ ?

613-617
622-623

Chúa Giêsu tự nguyện hiến dâng mạng sống ḿnh làm hy lễ đền tội, nghĩa là Người sửa lại tội lỗi chúng ta bằng sự vâng phục trọn vẹn của Người v́ t́nh yêu cho đến chết. T́nh “Yêu thương đến cùng” (Ga 13,1) của Con Thiên Chúa đă giao ḥa toàn thể nhân loại với Thiên Chúa. Như vậy, Hy lễ Vượt qua của Đức Kitô cứu chuộc mọi người cách độc nhất vô nhị, hoàn hảo và tối hậu, và mở lối cho họ vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.

 

123.     Tại sao Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ vác lấy thập giá của họ ?

 618

Khi kêu gọi các môn đệ vác thập giá ḿnh mà theo Người, Chúa Giêsu muốn những người đầu tiên hưởng nhờ hy tế cứu độ của Người được kết hợp vào hy tế ấy. 

 

124.      Thân xác của Chúa Giêsu ở trong t́nh trạng nào khi Người nằm trong mồ ?

624-630

Đức Kitô đă chết thật sự và đă được mai táng thật sự. Nhưng quyền năng Thiên Chúa đă ǵn giữ thân xác Người khỏi bị hư  nát. 

 

“ĐỨC GIÊSU KITÔ XUỐNG NGỤC TỔ TÔNG,

NGÀY THỨ BA BỞI TRONG KẺ CHẾT MÀ SỐNG LẠI”

 

125.      “Ngục tổ tông” mà Chúa Giêsu đi xuống là ǵ ?

632-637

“Ngục tổ tông” – khác với hỏa ngục của án phạt – là t́nh trạng của những người chết trước thời của Chúa Giêsu, dù họ lành thánh hay xấu xa. Với linh hồn được kết hợp với Ngôi vị thần linh, Chúa Giêsu xuống với những kẻ công chính trong ngục tổ tông, là những người đang mong chờ Đấng Cứu Chuộc họ, để cuối cùng họ có thể đạt được sự hưởng kiến Thiên Chúa. Sau khi nhờ cái chết của Người, Chúa Giêsu đă chiến thắng cả sự chết lẫn ma quỉ là “lănh chúa của sự chết” (Dt 2,14), Người giải thoát những người công chính đang mong chờ Đấng Cứu Chuộc, và Người mở cửa trời cho họ.

 

126.      Cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta ?

631,638

Cuộc Phục sinh là chân lư cao cả nhất của đức tin chúng ta vào Đức Kitô. Với thập giá, cuộc Phục sinh là phần thiết yếu của mầu nhiệm Vượt qua.

 

127.     Những “dấu chỉ” nào làm chứng cho cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu ?

 639-644
656-657

Ngoài dấu chỉ chính yếu là mồ trống, cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu được làm chứng bởi một số phụ nữ ;  họ  là những người đầu tiên đă gặp gỡ Người và đă báo tin cho các Tông đồ. Tiếp đó, Chúa Giêsu đă “hiện ra với Kêpha” (tức là thánh Phêrô), rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đă hiện ra cùng một lúc với hơn năm trăm anh em (1 Cr 15,5-6) và c̣n nhiều người khác nữa. Các Tông đồ đă không thể bày đặt ra chuyện Phục sinh, v́ Phục sinh đối với họ là chuyện không thể có được. Quả thật, Chúa Giêsu cũng đă trách cứ sự cứng ḷng tin của họ.

 

128.     Tại sao Phục sinh cũng là một biến cố siêu việt ?

647
656-657

Tuy là một sự kiện mang tính lịch sử, có thể xác định và chứng thực qua các dấu chỉ và chứng cớ, nhưng v́ là việc nhân tính của Đức Kitô bước vào vinh quang của Thiên Chúa, nên Phục sinh cũng siêu việt và vượt quá lịch sử, thực sự là Mầu nhiệm đức tin. Chính v́ thế, Đức Kitô Phục sinh không tỏ ḿnh ra cho thế gian, nhưng chỉ cho các môn đệ Người, làm cho họ trở thành những chứng nhân của Người trước mặt dân chúng.

 

129.     Thân xác phục sinh của Chúa Giêsu ở trong t́nh trạng nào ?

645-646

Sự Phục sinh của Đức Kitô không phải là một cuộc trở lại đời sống trần thế. Thân xác phục sinh của Người, cũng chính là thân xác đă chịu đóng đinh, và vẫn mang vết tích của cuộc khổ nạn, nhưng từ lúc Phục sinh, thân xác này được tham dự vào đời sống thần linh với những đặc điểm của một thân xác vinh hiển. V́ thế, Đức Giêsu Kitô Phục sinh tuyệt đối tự do khi hiện ra với các môn đệ Người, theo cách thức và nơi chốn như Người muốn, dưới nhiều h́nh dạng khác nhau.

 

130.     Sự Phục sinh là công tŕnh của Ba Ngôi Cực Thánh theo cách nào ?

648-650

Sự Phục sinh của Đức Kitô là một hành động siêu việt của Thiên Chúa. Cả Ba Ngôi cùng hoạt động chung theo tính cách riêng biệt của mỗi Ngôi : Chúa Cha bày tỏ quyền năng của ḿnh; Chúa Con “lấy lại” sự sống mà Người đă tự do dâng hiến (Ga 10,17) bằng cách kết hợp linh hồn và thân xác ḿnh, mà Chúa Thánh Thần làm cho sống động và tôn vinh.

 

131.     Đâu là ư nghĩa và ảnh hưởng của cuộc Phục sinh đối với ơn cứu độ ?

651-655
658

Phục sinh là chóp đỉnh của mầu nhiệm Nhập Thể, xác nhận thần tính của Đức Kitô cũng như tất cả những ǵ Người đă làm và đă giảng dạy. Cuộc Phục sinh thực hiện tất cả các lời hứa của Thiên Chúa v́ lợi ích của chúng ta. Hơn nữa, Đấng Phục sinh, Đấng chiến thắng tội lỗi và cái chết, là nguyên lư cho việc công chính hóa và sự phục sinh của chúng ta. Ngay từ bây giờ, Phục sinh mang lại cho chúng ta ơn được làm nghĩa tử Thiên Chúa, khiến chúng ta được thực sự tham dự vào sự sống của Con duy nhất, Đấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được sống lại vào ngày tận thế.

 

“CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

NGỰ BÊN HỮU ĐỨC CHÚA CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG”

 

132.     Việc Đức Kitô lên trời có ư nghĩa ǵ ?

659-667

Trong ṿng bốn mươi ngày, Đức Kitô hiện ra với các tông đồ dưới h́nh dạng con người b́nh thường, che giấu vinh quang của Đấng Phục sinh, sau đó Người lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Người là Chúa, từ nay với nhân tính của Người, Người cai trị trong vinh quang vĩnh cửu của Con Thiên Chúa và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta nơi Thiên Chúa Cha. Người cử Thánh Thần của Người đến với chúng ta và ban cho chúng ta niềm hy vọng một ngày kia sẽ được theo Ngườiù, đến nơi Người đă dọn sẵn cho chúng ta.

 

“NGÀY SAU BỞI TRỜI

LẠI XUỐNG PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT”

 

133.     Hiện tại, Chúa Giêsu thống trị như thế nào ?

668-674
680

Là Đức Chúa của vũ trụ và lịch sử, là Thủ lănh Hội thánh của Người, Đức Kitô vinh hiển vẫn hiện diện một cách mầu nhiệm trên trần gian, nơi Vương quốc của Người đă hiện diện như hạt giống và đă khởi đầu trong Hội thánh. Một ngày kia, Người sẽ trở lại trong vinh quang, nhưng chúng ta không biết được ngày nào giờ nào. V́ thế, chúng ta sống tỉnh thức trong cầu nguyện : “Lạy Chúa, xin hăy đến” (Kh 22,20).

 

134.     Việc Chúa ngự đến trong vinh quang sẽ diễn ra như thế nào ?

675-677
680

Sau cơn rung chuyển cuối cùng trong vũ trụ của thế giới sẽ qua đi này, Đức Kitô sẽ ngự đến vinh quang với chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa trong cuộc quang lâm và với cuộc phán xét cuối cùng. Như thế Nước Thiên Chúa sẽ được hoàn thành.

 

135.     Đức Kitô sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết như thế nào ?

678-679
681-682

Đức Kitô sẽ phán xét với quyền năng mà Người đă thu nhận được như Đấng Cứu Chuộc trần gian, đă đến để cứu độ loài người. Những điều kín nhiệm trong tâm hồn cũng như thái độ của mỗi người đối với Thiên Chúa và tha nhân sẽ được tỏ ra. Mỗi người sẽ đón nhận sự sống hay bị kết án đời đời tùy theo các công việc họ đă làm. Như thế “sự viên măn của Đức Kitô” (Ep 4,13) được thành tựu, trong đó “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28).

 

CHƯƠNG BA

“TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN”

 

136.     Hội thánh muốn nói ǵ khi tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần” ?

683-686

Tin vào Chúa Thánh Thần là tuyên xưng rằng Ngài là Ngôi Thứ Ba của Ba Ngôi Cực Thánh; Ngài xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con, và Ngài “được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con”. Chúa Thánh Thần được “sai đến . . . trong ḷng chúng ta” (Gl 4,6) để chúng ta có thể nhận lănh sự sống mới như những người con của Thiên Chúa.

 

137.     Tại sao sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần không thể tách rời nhau ?

687-690
742-743

Trong Ba Ngôi không thể phân chia, Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt với nhau, nhưng không tách rời nhau. Thực vậy, từ khởi đầu cho đến cùng tận thời gian, khi Chúa Cha sai Con Ngài, th́ cũng sai Thánh Thần của ḿnh, Đấng kết hợp chúng ta với Đức Kitô trong đức tin, để với tư cách là dưỡng tử, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là “Cha” (Rm 8,15). Chúa Thánh Thần vô h́nh, nhưng chúng ta nhận ra Ngài qua tác động của Ngài, khi Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng ta và khi Ngài hoạt động trong Hội thánh.

 

138.     Những tên gọi khác của Chúa Thánh Thần là ǵ ?

691-693

“Chúa Thánh Thần” là Danh xưng của Ngôi Ba. Đức Kitô cũng gọi Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi (Parakletos - Trạng sư) và Thần Chân Lư. Tân Ước c̣n gọi Ngài là Thánh Thần của Đức Kitô, của Đức Chúa, của Thiên Chúa, Thánh Thần của Vinh quang, Thánh Thần của Lời hứa.

 

139.     Những biểu tượng về Chúa Thánh Thần là ǵ ?

694-701

Có rất nhiều biểu tượng về Chúa Thánh Thần : nước hằng sống tuôn trào từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô và giải cơn khát cho những người đă được Rửa tội; việc xức dầu, đó là dấu chỉ của Bí tích Thêm sức;  lửa biến đổi tất cả những ǵ lửa bén tới; áng mây, mờ tối hay rạng ngời, trong đó vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện; việc đặt  tay thông ban Chúa Thánh Thần; chim bồ câu đă ngự xuống và ở lại trên Đức Kitô lúc Người chịu phép rửa.

 

140.     “Chúa Thánh Thần đă dùng các tiên tri mà phán dạy” nghĩa là ǵ ?

687-688
702-706
743

Từ “Các tiên tri” ở đây được dùng để chỉ những người được Chúa Thánh Thần linh ứng để họ nói nhân danh Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đă làm cho các lời tiên tri trong Cựu Ước được ứng nghiệm hoàn toàn nơi Đức Kitô; cũng chính Chúa Thánh Thần mạc khải mầu nhiệm Đức Kitô trong Tân Ước.

 

141.     Hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi thánh Gioan Tẩy Giả như thế nào ?

717-720

Chúa Thánh Thần đổ tràn trên thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước. Dưới tác động của Thánh Thần, ông được sai đi để “chuẩn bị một dân cho Chúa” (Lc 1,17) và để loan báo việc Đức Kitô, Con Thiên Chúa, ngự đến ; đó là Đấng mà ông đă thấy Thánh Thần ngự xuống và ở lại trên Người, Đấng “sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần” (Ga 1,33).

 

142.     Đâu là công tŕnh của Chúa Thánh Thần nơi Đức Maria ?

721-726
744

Mọi mong chờ việc Đức Kitô đến và sự chuẩn bị cho Người trong Cựu Ước được Chúa Thánh Thần hoàn thành tất cả nơi Đức Maria. Một cách độc nhất vô nhị, Chúa Thánh Thần đă đổ tràn ân sủng trên Đức Maria và làm cho đức trinh khiết của Mẹ nên phong phú, để Mẹ sinh hạ Người Con của Thiên Chúa trong thân xác. Chúa Thánh Thần đă làm cho Đức Maria trở thành Mẹ của “Đức Kitô toàn thể,” nghĩa là của Đức Kitô là Đầu và của Hội thánh là thân thể Người. Đức Maria hiện diện giữa nhóm Mười Hai ngày lễ Hiện Xuống, khi Thánh Thần khai mở “thời đại cuối cùng” với việc xuất hiện của Hội thánh.

 

143.     Trong sứ vụ trần thế, Đức Giêsu Kitô có liên hệ ǵ với Chúa Thánh Thần ?

727-730
745-746

Từ khi nhập thể, Con Thiên Chúa được thánh hiến trở thành Đức Kitô trong nhân tính của Người nhờ việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần. Đức Kitô mạc khải Chúa Thánh Thần trong giáo huấn của Người, hoàn thành lời hứa đă được ban cho các tổ phụ. Người trao ban Thánh Thần cho Hội thánh vừa khai sinh khi thổi hơi trên các Tông đồ sau khi Người Phục sinh.

 

144.     Điều ǵ dă xảy ra trong ngày lễ Ngũ tuần ?

731-732
738

Năm mươi ngày sau cuộc Phục sinh, vào lễ Ngũ tuần, Đức Giêsu Kitô vinh hiển đă đổ tràn Thánh Thần và mạc khải Ngài là một Ngôi Vị Thiên Chúa, qua đó Ba Ngôi cực thánh được mạc khải trọn vẹn. Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần trở thành sứ vụ của Hội thánh, được sai đi công bố và loan truyền mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi.

 

“Chúng con đă thấy ánh sáng thật, chúng con đă lănh nhận Thánh Thần Thiên Chúa, chúng con đă t́m được đức tin chân chính : chúng con tôn thờ Ba Ngôi bất khả phân ly, v́ chính Ba Ngôi đă cứu độ chúng con” (Phụng vụ Byzantin,  Điệp ca lễ Hiện Xuống).

 

145.     Chúa Thánh Thần làm ǵ trong Hội thánh ?

733-741
747

Chúa Thánh Thần xây dựng, linh hoạt và thánh hóa Hội thánh : Là Thánh Thần T́nh Yêu, Ngài làm cho những người đă lănh nhận Bí tích Rửa tội nhận lại được ơn giống Thiên Chúa đă bị đánh mất v́ tội lỗi; Ngài giúp họ sống trong Đức Kitô bằng chính Sự sống của Ba Ngôi cực thánh. Người sai họ đi làm chứng cho Chân lư của Đức Kitô và cắt đặt họ vào trong các phận vụ hỗ tương, để mọi người đem lại “hoa trái của Thánh Thần” (Ga 5,22). 

 

146.     Đức Kitô và Thánh Thần của Người hoạt động như thế nào trong tâm hồn các tín hữu ?

738-741

Nhờ các Bí tích, Đức Kitô thông truyền Thánh Thần của Người và ân sủng của Thiên Chúa cho các chi thể trong thân thể Người. Ân sủng này mang lại hoa trái của đời sống mới theo Thánh Thần. Cuối cùng, Thánh Thần là Thầy dạy cầu nguyện.  

 

 

 

“TÔI TIN CÓ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO”

 

Hội thánh trong kế hoạch của Thiên Chúa

 

147.  Hai tiếng Hội thánh có nghĩa là ǵ ?

751-752
777, 804

Hội thánh là dân được Thiên Chúa kêu gọi và qui tụ từ khắp nơi trên thế giới, gồm những người, nhờ đức tin và Bí tích Rửa tội, trở thành con cái Thiên Chúa, chi thể của Đức Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần.

 

148. Trong Thánh Kinh, có những danh hiệu và h́nh ảnh nào khác để chỉ Hội thánh không ?

753-757

Trong Thánh Kinh chúng ta t́m thấy nhiều h́nh ảnh làm nổi bật những phương diện khác nhau của mầu nhiệm Hội thánh. Cựu Ước dành ưu tiên cho những h́nh ảnh liên kết với dân Thiên Chúa ; Tân Ước bằng những h́nh ảnh gắn liền với Đức Kitô như là đầu và dân là chi thể của Người; cũng có những h́nh ảnh khác rút từ đời sống thôn quê (chuồng chiên, đàn chiên, con chiên), đời sống đồng áng (ruộng vườn, cây Ôliu, vườn nho), từ nhà cửa (nhà ở, viên đá, đền thờ) và từ cuộc sống gia đ́nh (người vợ, người mẹ, gia đ́nh).

 

149. Đâu là khởi đầu và hoàn thành của Hội thánh ?

758-766
778

Cả khởi đầu và sự hoàn thành của Hội thánh đều nằm trong kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. Hội thánh đă được chuẩn bị trong Giao ước cũ qua việc tuyển chọn Israel, dấu chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc. Hội thánh được đặt nền tảng trên lời nói và việc làm của Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt được hiện thực nhờ cái chết và cuộc phục sinh cứu độ của Người. Rồi Hội thánh được tỏ hiện như mầu nhiệm cứu độ bằng việc tuôn đổ Thánh Thần trong ngày lễ Hiện xuống. Hội thánh sẽ hoàn thành vào ngày tận thế như cuộc tập họp thiên quốc của tất cả những người được cứu chuộc.

 

150. Sứ mạng của Hội thánh là ǵ ?

767-769

Sứ mạng của Hội thánh là rao truyền Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô đă khởi đầu và thiết lập Nước ấy giữa mọi dân tộc. Hội thánh thiết lập trên trái đất mầm giống và khởi điểm của Vương quốc cứu độ này.

 

151. Hội thánh  là mầu nhiệm theo nghĩa nào ?

770-773
779

Hội thánh là mầu nhiệm bởi v́, trong thực tại hữu h́nh của ḿnh, Hội thánh diễn tả và thực hiện một thực tại thiêng liêng, thần linh, chỉ có thể nhận ra bằng con mắt đức tin.

 

152. “Hội thánh là bí tích phổ quát của ơn cứu độ” có nghĩa là ǵ ?

774-776
780

Câu này muốn nói Hội thánh là dấu chỉ và khí cụ cho việc giao ḥa và hiệp thông toàn thể nhân loại với Thiên Chúa cũng như cho sự hợp nhất nhân loại.

 

Hội Thánh : Dân Thiên Chúa, Thân thể Đức Kitô, Đền thờ Chúa Thánh Thần

 

153.  Tại sao Hội thánh  là Dân Thiên Chúa ?

781
802-804

Hội thánh là Dân Thiên Chúa, bởi v́ Ngài muốn thánh hóa và cứu độ mọi người không phải cách riêng rẽ, nhưng thiết lập họ thành một Dân duy nhất, được qui tụ trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 

154. Đâu là những đặc tính của Dân Thiên Chúa ?

782

Dân Thiên Chúa mà chúng ta là thành phần nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ Bí tích Rửa tội, có cội nguồn là Thiên Chúa Cha,Thủ lănh là Đức Giêsu Kitô, có địa vị là phẩm giá và sự tự do của con cái Thiên Chúa, có Lề luật là giới răn mới của t́nh yêu, có sứ vụ là trở thành muối và ánh sáng của thế giới, có cùng đích là Nước Thiên Chúa, đă được khởi đầu trên trần thế.

 

155.   Dân Thiên Chúa thông dự như thế nào vào ba phận vụ của Đức Kitô là Tư tế, là Tiên tri và là Vương đế ?

783-786

Dân Thiên Chúa được dự phần vào phận vụ Tư tế của Đức Kitô, v́ các người Kitô hữu được Chúa Thánh Thần thánh hiến để dâng các hy lễ thiêng liêng. Họ được tham dự vào phận vụ Tiên tri v́, nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, họ gắn bó cách dứt khoát với đức tin, đào sâu để hiểu biết đức tin và trở thành chứng nhân cho đức tin. Họ được tham dự vào phận vụ là Vương đế qua việc phục vụ, noi gương Đức Kitô Giêsu, Vua vũ trụ, Đấng tự trở thành tôi tớ cho mọi người, nhất là cho những người nghèo túng và đau khổ. 

 

156.  Hội thánh  là Thân thể của Đức Kitô theo cách nào ?

787-791
805-806

Nhờ Chúa Thánh Thần, Đức Kitô, đă chết và đă phục sinh, kết hợp các tín hữu với chính Người một cách mật thiết. Như thế những ai tin vào Đức Kitô, v́ được kết hợp chặt chẽ với Người, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, th́ cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Hội thánh, hợp nhất với nhau trong sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ.

 

157.  Ai là đầu của thân thể này ?

792-795
807

Đức Kitô là “Đầu của thân thể, nghĩa là của Hội thánh” (Cl 1,18). Hội thánh sống nhờ Người, trong Người và cho Người. Đức Kitô và Hội thánh tạo thành “Đức Kitô toàn thể” (thánh Augustinô). “Có thể nói được là, Đầu và các chi thể làm nên cùng một con người huyền nhiệm” (Thánh Tôma Aquinô).

 

158. Tại sao Hội thánh  được gọi là Hôn thê của Đức Kitô ?

796
808

Hội thánh được gọi là Hôn thê của Đức Kitô bởi v́ chính Chúa đă tự xưng là “Hôn phu” (Mc 2,19), Đấng đă yêu thương Hội thánh, đă kết ước với Hội thánh bằng một Giao ước vĩnh cửu.  Người đă phó nộp ḿnh v́ Hội thánh, để thanh tẩy Hội thánh bằng Máu của Người, để làm cho Hội thánh “trở nên thánh thiện” (Ep 5,26) và làm cho Hội thánh thành mẹ của tất cả các con cái của Thiên Chúa. Nếu hai chữ “Thân thể” cho thấy sự hợp nhất giữa “Đầu” và các chi thể, th́ hai chữ “Hôn thê” làm nổi bật sự phân biệt giữa đôi bên trong một quan hệ liên vị. 

 

159.  Tại sao Hội thánh được gọi là Đền thờ Chúa Thánh Thần ?

 797-798
809-810

Bởi v́ Chúa Thánh Thần ngự trong thân thể là Hội thánh, trong “Đầu” và trong “các chi thể” của Hội thánh; hơn nữa, Ngài xây dựng Hội thánh trong đức mến, nhờ Lời Chúa, các Bí tích, các nhân đức và các đặc sủng.   

 

“Linh hồn tương quan với chi thể thế nào th́ Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với các chi thể của Đức Kitô và thân thể Người là Hội thánh.” (Thánh Augustinô).

 

160.     Đặc sủng là ǵ ?

799-801

Đặc sủng là những ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần được ban tặng cho một số người v́ lợi ích của con người, v́ những nhu cầu của thế giới và đặc biệt là để xây dựng Hội thánh. Chỉ có Huấn quyền của Hội thánh mới có thẩm quyền nhận định các đặc sủng.

  

Hội thánh Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền

 

161.     Tại sao Hội thánh có đặc tính duy nhất ?

813-815
866

Hội thánh có đặc tính là duy nhất, v́ Hội thánh có nguồn gốc và khuôn mẫu là sự duy nhất của một Thiên Chúa trong Ba Ngôi; có Đấng sáng lập và làm Đầu là Đức Giêsu Kitô, Đấng qui tụ mọi dân tộc trong sự duy nhất của một thân thể ; có Chúa Thánh Thần như linh hồn, Đấng hợp nhất tất cả các tín hữu vào sự hiệp thông trong Đức Kitô. Hội thánh có cùng một đức tin, một đời sống Bí tích, một chuỗi kế nhiệm tông truyền duy nhất, cùng một niềm hy vọng chung và cùng một đức mến.

 

162.     Hội thánh duy nhất của Đức Kitô tồn tại ở đâu ?

816
870

Với tính cách là một cộng đoàn được thiết lập và tổ chức ở trần gian, Hội thánh duy nhất của Đức Kitô tồn tại (subsistit in) trong Hội thánh Công giáo, được điều hành do vị kế nhiệm thánh Phêrô và do các Giám mục hiệp thông với ngài. Chỉ nhờ Hội thánh này người ta mới có thể đạt được cách đầy đủ các phương tiện cứu độ, v́ Chúa đă trao phó tất cả những ǵ thiện hảo của Giao ước Mới cho tập thể tông đồ duy nhất, có thánh Phêrô đứng đầu.

 

163.     Phải nh́n các người Kitô hữu không thuộc công giáo như thế nào ?

817-819

Trong các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội , đă tách rời khỏi sự hiệp thông trọn vẹn với Hội thánh Công giáo, chúng ta cũng gặp được nhiều yếu tố thánh hóa và chân lư. Tất cả các yếu tố này xuất phát từ Đức Kitô và đều hướng đến sự hợp nhất công giáo. Các thành viên của các Giáo hội và các cộng đoàn này được hội nhập vào Đức Kitô nhờ Bí tích Rửa tội;  v́ vậy chúng ta nh́n nhận họ như anh em.

 

164.     Làm thế nào để dấn thân cho sự hợp nhất ?

820-822
866

Ḷng khao khát muốn tái lập sự hợp nhất giữa tất cả các người Kitô hữu là một hồng ân của Đức Kitô và là một lời kêu gọi của Chúa Thánh Thần. Khao khát này liên quan đến toàn thể Hội thánh và được thực hiện bằng việc sám hối tận đáy ḷng, cầu nguyện, nh́n nhận lẫn nhau là anh em và đối thoại thần học.

 

165.     Hội thánh có đặc tính là thánh thiện theo nghĩa nào ?

823-829
867

Hội thánh có đặc tính thánh thiện, v́ Thiên Chúa chí thánh là tác giả của Hội thánh. Đức Kitô đă tự nộp ḿnh v́ Hội thánh, để thánh hóa Hội thánh và làm cho Hội thánh có khả năng thánh hóa. Chúa Thánh Thần ban sự sống cho Hội thánh bằng t́nh yêu. Trong Hội thánh có tất cả các phương tiện cứu độ. Sự thánh thiện là ơn gọi của từng người trong Hội thánh và là mục đích của mọi hoạt động của Hội thánh. Trong Hội thánh có Đức Trinh Nữ Maria và rất nhiều vị thánh là gương mẫu và là những đấng chuyển cầu cho Hội thánh. Sự thánh thiện của Hội thánh là suối nguồn cho sự thánh hóa các con cái ḿnh, những người đang sống trên trần gian, tất cả đều tự nhận ḿnh là kẻ tội lỗi và luôn cần sám hối và thanh tẩy.

 

166.     Tại sao Hội thánh được gọi là công giáo ?

830-831
868

Hội thánh có đặc tính là công giáo, nghĩa là phổ quát, v́ Đức Kitô hiện diện trong Hội thánh. “Ở đâu có Đức Kitô Giêsu, ở đó có Hội thánh Công giáo” (Thánh Inhaxiô Antiôkia). Hội thánh loan báo sự toàn diện và toàn vẹn của đức tin. Hội thánh ǵn giữ và quản lư tất cả các phương tiện cứu độ. Hội thánh được sai đến với mọi dân tộc ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa của họ.

 

167.  Giáo hội địa phương có phải công giáo không ?

832-835

Mỗi Giáo hội địa phương (nghĩa là một giáo phận hoặc giáo khu) đều là công giáo, được h́nh thành bởi cộng đoàn các người Kitô hữu, cùng hiệp thông trong đức tin và trong các Bí tích với Giám mục của họ, là người được tấn phong trong chuổi kế nhiệm tông truyền, và với Giáo hội Rôma là giáo hội “đứng đầu về mặt đức ái” (thánh Ignatio Antiôkia). 

 

168. Ai thuộc về Hội thánh Công giáo ?

836-838

Tất cả mọi người, dưới nhiều h́nh thức khác nhau, đều thuộc về hay hướng đến sự hợp nhất công giáo của dân Thiên Chúa. Người hoàn toàn thuộc về Hội thánh Công giáo là người, nhận được Thánh Thần của Đức Kitô, kết hợp với Hội thánh bằng các dây liên kết là việc tuyên xưng đức tin, các Bí tích, sự hướng dẫn của giáo phẩm và sự hiệp thông. Những người đă được Rửa tội nhưng không thực hiện đầy đủ sự hợp nhất công giáo th́ cũng hiệp thông một cách nào đó, tuy là hiệp thông không trọn vẹn, với Hội thánh Công giáo.

 

169.  Hội thánh Công giáo liên hệ với dân Do Thái như thế nào ?

839-840

Hội Thánh Công giáo công nhận liên hệ của ḿnh với dân Do Thái v́ Thiên Chúa đă tuyển chọn dân này, trước tất cả mọi dân khác, để đón nhận Lời Ngài. Chính dân Do Thái “được Thiên Chúa nhận làm con, được Ngài cho thấy vinh quang, ban tặng các Giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa; họ là con cháu các tổ phụ, và chính Đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một ṇi giống với họ” (Rm 9,4-5). Khác với các tôn giáo khác không thuộc Kitô giáo, đức tin Do Thái đă là lời đáp trả cho Mạc khải của Thiên Chúa trong Giao Ứơc Cũ.

 

170.  Liên hệ giữa Hội thánh Công giáo với các tôn giáo ngoài Kitô giáo như thế nào ?

 841-845

Trước hết, đó là mối liên hệ về nguồn gốc và cứu cánh chung của toàn thể nhân loại. Hội thánh Công giáo nh́n nhận những ǵ tốt lành và chân thật trong các tôn giáo khác đều xuất phát từ Thiên Chúa. Đó là một tia phản chiếu chân lư của Ngài. Điều này có thể chuẩn bị cho việc đón nhận Tin Mừng và thúc đẩy đến sự hợp nhất nhân loại trong Hội thánh của Đức  Kitô.

 

171.Câu khẳng định “Ngoài Hội thánh không có ơn cứu độ” có nghĩa ǵ ?

846-848

Câu này muốn nói rằng ơn cứu độ xuất phát từ Đức Kitô-là-Đầu thông qua trung gian là Hội thánh, thân thể Người. Những ai biết rằng Hội thánh được Đức Kitô thiết lập và cần thiết cho ơn cứu độ mà không muốn bước vào hay không muốn gắn bó với Hội thánh, th́ sẽ không được cứu độ. Ngoài ra, nhờ Đức Kitô và Hội thánh Người, những người, không v́ lỗi ḿnh mà không biết Tin Mừng của Đức Kitô và Hội thánh Người, nhưng chân thành đi t́m Thiên Chúa và dưới ảnh hưởng của ân sủng, cố gắng thực hiện ư Thiên Chúa qua sự hướng dẫn của lương tâm, vẫn có thể đạt được ơn cứu độ muôn đời. 

      

172.  Tại sao Hội thánh phải loan truyền Tin Mừng cho toàn thế giới ?

849-851

Bởi v́ Đức Kitô đă truyền cho Hội thánh : “Anh em hăy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Mệnh lệnh này của Chúa có cội nguồn là t́nh yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng đă sai phái Con và Thánh Thần Ngài, v́ Ngài “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1 Tm 2,4).

 

173.  Thế nào là Hội thánh truyền giáo ?

852-856

Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, suốt ḍng lịch sử, Hội thánh tiếp tục sứ vụ của chính Đức Kitô. V́ vậy, các người Kitô hữu phải loan báo cho mọi người Tin Mừng đă được Đức Kitô mang đến, khi bước theo cùng một con đường như Người, tức là sẵn sàng hy sinh, thậm chí đến chỗ tử đạo. 

 

174. Tại sao Hội thánh có đặc tính tông truyền ?

857
869

Hội thánh có đặc tính tông truyền căn cứ vào nguồn gốc của ḿnh, v́ Hội thánh được “xây dựng trên nền tảng các Tông đồ” (Ep 2,20); căn cứ vào giáo lư là giáo huấn của các thánh Tông đồ; và căn cứ vào cơ cấu của ḿnh, v́ Hội thánh được xây dựng, thánh hóa và hướng dẫn cho đến ngày Chúa lại đến, bởi các thánh Tông đồ, nhờ những vị kế nhiệm các ngài là các Giám mục hiệp thông với vị kế nhiệm thánh Phêrô.

 

175.  Sứ vụ của các thánh Tông đồ hệ tại ở đâu ?

858-861

Tông đồ có nghĩa là người được sai đi. Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến, đă kêu gọi và tuyển chọn mười hai người trong số các môn đệ và đặt họ làm Tông đồ của Người, khi làm cho họ thành những chứng nhân cho cuộc Phục sinh của Người và làm nền tảng cho Hội thánh của Người. Người truyền cho họ phải tiếp tục sứ vụ của Người, khi Người nói với họ : “Như Chúa Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21), và Người hứa ở với họ cho đến ngày tận thế.

 

176.  Kế nhiệm tông truyền là ǵ ?

861-865

Kế nhiệm tông truyền là chuyển giao sứ vụ và quyền hạn của các Tông đồ cho những người kế vị các ngài, là các Giám mục, qua Bí tích Truyền chức thánh. Chính nhờ việc chuyển giao này mà Hội thánh vẫn duy tŕ được sự hiệp thông trong đức tin và đời sống với nguồn gốc của ḿnh, trải qua bao thế kỷ, Hội thánh thực hành việc tông đồ của ḿnh là làm lan toả Vương quốc của Đức Kitô trên trần gian.

 

Các người Kitô hữu : phẩm trật, giáo dân, đời sống thánh hiến

 

177.     Các tín hữu là ai ?

871-872

Các tín hữu là những người được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Bí tích Rửa tội, được trở nên thành phần của dân Thiên Chúa. Trở thành những người được dự phần vào các phận vụ Tư tế, Tiên tri và Vương đế của Đức Kitô, tùy theo điều kiện riêng của ḿnh, họ được mời gọi thực thi sứ vụ được Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh. Giữa họ, có một sự b́nh đẳng thực sự  do phẩm giá của họ là con cái Thiên Chúa.

 

178.     Dân Thiên Chúa được h́nh thành như thế nào ?

873
934

Theo sự xếp đặt của Thiên Chúa, trong Hội thánh có những thừa tác viên được hiến thánh, đă được lănh nhận Bí tích Truyền chức thánh và tạo thành phẩm trật của Hội thánh. Những người khác được gọi là giáo dân. Trong cả hai thành phần này, có những tín hữu được thánh hiến một cách đặc biệt cho Thiên Chúa qua việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm : khiết tịnh trong đời sống độc thân, khó nghèo và vâng phục.

 

179.     Tại sao Đức Kitô lại thiết lập phẩm trật trong Hội thánh ?

874-876
935

Đức Kitô đă thiết lập phẩm trật trong Hội thánh để chăn dắt dân Thiên Chúa nhân danh Người; và v́ thế Người đă trao ban quyền hành cho họ. Phẩm trật bao gồm các thừa tác viên đă được thánh hiến : các giám mục, linh mục, phó tế. Nhờ Bí tích Truyền chức thánh, các Giám mục và linh mục, khi thực thi thừa tác vụ của ḿnh, hoạt động nhân danh và trong cương vị của Đức Kitô-là-Đầu. Các Phó tế phục vụ dân Chúa trong việc phục vụ (diakonia) lời Chúa, Phụng vụ và việc bác ái.

 

180.     Chiều kích tập thể của thừa tác vụ trong Hội thánh được thực hiện như thế nào?

877

Theo gương nhóm mười hai Tông đồ, được Đức Kitô tuyển chọn và sai đi chung với nhau, sự kết hợp của các thành phần phẩm trật trong Hội thánh là để phục vụ sự hiệp thông của tất cả các tín hữu. Mỗi Giám mục thực thi thừa tác vụ của ḿnh như thành viên của Giám mục đoàn, trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, dự phần với ngài vào việc chăm lo cho Hội thánh phổ quát. Các linh mục thực thi thừa tác vụ của ḿnh trong linh mục đoàn của Hội thánh địa phương trong sự hiệp thông với Giám mục và dưới sự hướng dẫn của ngài.

 

181.     Tại sao thừa tác vụ trong Hội thánh cũng có đặc tính cá nhân ?

878-879

Thừa tác vụ trong Hội thánh cũng có đặc tính cá nhân, bởi v́, nhờ hiệu năng của Bí tích Truyền chức thánh, mỗi người đều chịu trách nhiệm trước Đức Kitô, Đấng đă kêu gọi họ một  cách cá nhân khi trao phó cho họ một sứ vụ.

 

182.     Sứ vụ của Đức Giáo hoàng là ǵ ?

881-882
936-937

Đức Giáo hoàng, vừa là Giám mục Rôma vừa là vị kế nhiệm Thánh Phêrô, là nguyên lư và nền tảng trường tồn và hữu h́nh cho sự hợp nhất của Hội thánh. Ngài là vị đại diện Đức Kitô, đứng đầu Giám mục đoàn và là mục tử của toàn thể Hội thánh. V́ do Chúa thiết lập, ngài có quyền trọn vẹn, tối cao, trực tiếp và phổ quát trên Hội thánh.

 

183.     Nhiệm vụ của Giám mục đoàn là ǵ ?

883-885

Giám mục đoàn, hiệp thông với Đức Giáo hoàng và luôn phải có ngài, cũng thực thi trên Hội thánh một quyền tối cao và trọn vẹn.

 

184.      Các Giám mục thực thi sứ vụ giảng dạy của ḿnh như thế nào ?

888-890
939

Trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, các Giám mục có bổn phận loan báo Tin Mừng cho mọi người cách trung thành và có thẩm quyền. Với thẩm quyền của Đức Kitô, các ngài là chứng nhân đích thực của đức tin tông truyền. Nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, Dân Thiên Chúa, được Huấn quyền sống động của Hội thánh hướng dẫn, gắn bó cách kiên vững với đức tin.

 

185.     Sự bất khả ngộ của Huấn quyền thể hiện lúc nào ?

891

Sự bất khả ngộ thể hiện khi Đức Giáo hoàng, căn cứ vào thẩm quyền là Mục tử tối cao của Hội thánh, hay Giám mục đoàn trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, nhất là khi các ngài họp Công đồng chung, công bố một giáo lư có liên quan đến đức tin hay luân lư bằng một hành động dứt khoát, hoặc khi Đức Giáo hoàng và các Giám mục, trong Huấn quyền thông thường của các ngài, đồng thanh tuyên bố một tín điều dứt khoát. Tất cả các tín hữu đều phải gắn bó với giáo huấn này trong sự vâng phục đức tin.

 

186.     Các Giám mục thực thi sứ vụ thánh hóa như thế nào ?

893

Các Giám mục thánh hóa Hội thánh khi trao ban ân sủng của Đức Kitô bằng việc rao giảng và cử hành các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể. Các ngài cũng thánh hóa Hội thánh bằng lời cầu nguyện, gương mẫu và việc làm của ḿnh.

 

187.     Các Giám mục thực thi sứ vụ cai quản như thế nào ?

894-896

Mỗi Giám mục, với tư cách là thành viên của Giám mục đoàn, phải quan tâm cách tập thể đối với mọi Giáo hội địa phương và Hội thánh toàn cầu, trong sự hợp nhất với các Giám mục khác kết hợp với Đức Giáo hoàng. Giám mục, được ủy thác một Giáo hội địa phương, sẽ điều khiển Giáo hội ấy với thẩm quyền do chức thánh, riêng biệt, thông thường và trực tiếp, nhân danh Đức Kitô, vị Mục tử Nhân lành, trong sự hiệp thông với toàn thể Hội thánh và dưới sự dẫn dắt của Đấng kế nhiệm thánh Phêrô. 

 

188.     Ơn gọi của người tín hữu giáo dân là ǵ ?

897-900
940

Người tín hữu giáo dân có ơn gọi riêng để t́m kiếm Nước Thiên Chúa, bằng việc soi sáng và sắp xếp các thực tại trần gian theo ư muốn của Thiên Chúa. Làm như vậy là họ thực hiện ơn gọi nên thánh và hoạt động tông đồ, một ơn gọi được trao ban cho mọi người đă lănh Bí tích Rửa tội.

 

189.      Người tín hữu giáo dân tham gia vào sứ vụ tư tế của Đức Kitô như thế nào ?

901-903

Họ tham gia vào sứ vụ tư tế này, khi dâng hiến – như hy lễ thiêng liêng “dâng lên Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô” ( 1 Pr 2,5), nhất là trong Thánh lễ – cuộc sống riêng của họ, cùng với tất cả các hoạt động, lời cầu nguyện và dấn thân truyền giáo, cuộc sống gia đ́nh và lao động hằng ngày, những khó khăn trong cuộc sống mà họ chịu đựng cách kiên nhẫn và những lúc thư giăn thân xác và tinh thần. Bằng cách đó, người giáo dân, dấn thân cho Đức Kitô và được Chúa Thánh Thần thánh hiến, sẽ dâng lên Thiên Chúa cả thế giới.  

 

190.     Họ tham dự vào sứ vụ tiên tri của Đức Kitô như thế nào ?

904-907
942

Họ tham dự vào sứ vụ tiên tri này của Đức Kitô khi luôn đón nhận trong đức tin Lời của Đức Kitô và loan báo Lời đó cho thế giới bằng chứng từ đời sống của họ, cũng như qua lời nói, hoạt động rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lư. Việc rao giảng Tin Mừng như vậy đạt được hiệu quả đặc biệt v́ việc này được thực hiện trong các hoàn cảnh thông thường nơi trần thế. 

 

191.     Họ tham dự vào sứ vụ Vương đế của Đức Kitô như thế nào ?

908-913
943

Người giáo dân tham dự vào sứ vụ Vương đế của Đức Kitô khi đón nhận từ nơi Người quyền năng chiến thắng tội lỗi, nơi chính họ và trong thế giới, qua việc từ bỏ bản thân và sống đời sống thánh thiện. Họ thực hành nhiều tác vụ khác nhau để phục vụ cộng đoàn và ghi dấu ấn trên các hoạt động trần thế của con người và các cơ chế xă hội bằng giá trị luân lư.

 

192.      Đời sống thánh hiến là ǵ ?

914-916
944

Là một bậc sống được Hội thánh công nhận. Đó là lời tự nguyện đáp trả tiếng gọi đặc biệt của Đức Kitô, qua đó những người được thánh hiến hoàn toàn tự hiến cho Thiên Chúa và hướng tới sự hoàn hảo của đức ái dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Đặc tính của sự thánh hiến là việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.

 

193.     Đời sống thánh hiến đóng góp ǵ cho sứ vụ của Hội thánh ?

931-933
945

Đời sống thánh hiến dự phần vào sứ vụ của Hội thánh, bằng việc tự hiến trọn vẹn cho Đức Kitô và các anh em của Người, khi làm chứng cho niềm hy vọng về Nước Trời. 

 

TÔI TIN CÁC THÁNH THÔNG CÔNG

 

194.     “Các thánh thông công” có ư nghĩa ǵ ?

946-953
960

Câu nói  “các thánh thông công” trước hết nói lên sự tham dự chung của tất cả các thành phần Hội thánh vào những thực tại thánh (sancta) :  đức tin, các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, các đặc sủng và những ân huệ thiêng liêng khác. Cội nguồn của sự hiệp thông là đức ái “không t́m tư lợi” (1 Cr 13,5), nhưng thúc đẩy các tín hữu đặt “mọi sự là của chung” (Cv 4,32), kể cả của cải vật chất của họ, nhằm phục vụ những người nghèo khổ hơn.

 

195.     Câu nói “các thánh thông công” c̣n mang ư nghĩa nào khác nữa ?

954-959
961-962

Câu này c̣n nói lên sự hiệp thông giữa những người thánh (sancti), nghĩa là những ai, nhờ ân sủng, được kết hợp với Đức Kitô chịu chết và sống lại. Một số c̣n lữ hành trên trần gian; một số khác, đă rời bỏ đời này, hiện đang được thanh luyện, và cũng được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta; sau hết, một số khác nữa, đă được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu cho chúng ta. Tất cả cùng nhau làm thành một gia đ́nh duy nhất trong Đức Kitô, là Hội thánh, để ca ngợi  và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.

 

Đức Maria : Mẹ Đức Kitô, Mẹ Hội thánh

 

196.      Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc là Mẹ Hội thánh theo nghĩa nào ?

963-966
973

Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc là Mẹ Hội thánh trong trật tự ân sủng bởi v́ Mẹ đă sinh ra Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, là Đầu của Thân Thể Người là Hội thánh. Khi sắp chết trên thánh giá, Chúa Giêsu đă trối Đức Maria làm mẹ của môn đệ Người bằng những lời này : “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,27).

 

197.      Đức Maria trợ giúp Hội thánh như thế nào ?

967-970

Sau khi Con ḿnh về trời, Đức Maria đă giúp đỡ Hội thánh lúc khởi đầu bằng lời cầu nguyện, và cả sau khi đă được lên trời, Mẹ vẫn tiếp tục chuyển cầu cho con cái ḿnh, vẫn là mẫu gương cho mọi người về đức tin và đức ái, tạo ảnh hưởng cứu độ trên họ, ảnh hưởng này xuất phát từ sự dư đầy các công nghiệp của Đức Kitô. Các tín hữu nh́n Mẹ như nguyên ảnh và sự tham dự trước vào cuộc phục sinh đang chờ đón họ ; họ kêu cầu Mẹ dưới các tước hiệu là Trạng sư, Đấng phù trợ, Đấng bảo trợ và Đấng trung gian.

 

198.      Đức Trinh Nữ rất thánh được tôn kính như thế nào ?

971

Mẹ được sùng kính cách đặc biệt, nhưng khác hẳn với việc tôn thờ chỉ dành riêng cho Ba Ngôi cực thánh. Việc sùng kính đặc biệt này được diễn tả một cách độc đáo trong các ngày lễ phụng vụ dành kính Mẹ Thiên Chúa cũng như trong các kinh nguyện tôn kính Đức Mẹ, như kinh Mân Côi, được xem là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng. 

 

199.     Đức Trinh nữ Maria diễm phúc là h́nh ảnh cánh chung của Hội thánh như thế nào ?

972
974-975

Khi nh́n lên Đức Maria, hoàn toàn thánh thiện và đă được tôn vinh cả hồn lẫn xác, Hội thánh chiêm ngắm nơi Mẹ điều Hội thánh được kêu gọi để sống trên trần gian và điều Hội thánh sẽ trở thành trên quê hương thiên quốc.

 

“TÔI TIN PHÉP THA TỘI”

 

200.      Tội lỗi được tha thứ như thế nào ?

976-980
984-985

Bí tích đầu tiên và căn bản để tha tội là Bí tích Rửa tội. Đối với những tội phạm sau khi lănh nhận Bí tích Rửa tội, Đức Kitô đă thiết lập Bí tích Ḥa giải hay Thống hối, nhờ đó người đă được Rửa tội được giao ḥa với Thiên Chúa và với Hội thánh.

 

201.      Tại sao Hội thánh  có quyền tha tội ?

981-983
986-987

Hội thánh có sứ vụ và quyền năng để tha các tội lỗi, bởi v́ chính Đức Kitô đă trao ban cho Hội thánh quyền ấy : “Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, th́ người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, th́ người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).

 

“TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI  NGÀY SAU SỐNG LẠI”

 

202.     Hai chữ “thân xác” có ư nghĩa ǵ ? Đâu là sự quan trọng của nó ?

990
1015

Hai chữ “thân xác” chỉ con người trong t́nh trạng yếu đuối và phải chết. “Thân xác là then chốt của ơn cứu độ” (Tertullien). Thật vậy, chúng ta tin Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên thân xác; chúng ta tin Ngôi Lời mặc lấy thân xác để cứu chuộc thân xác; chúng ta tin vào sự sống lại của thân xác, đó là hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc thân xác.

 

203.     “Xác sống lại” có nghĩa là ǵ ?

 990

Điều này muốn nói đến t́nh trạng vĩnh viễn của con người không phải chỉ là linh hồn thiêng liêng tách biệt khỏi thân xác, nhưng thân xác phải chết của chúng ta cũng được gọi để một ngày kia sẽ sống lại.

 

204.     Đâu là mối liên hệ giữa cuộc Phục sinh của Đức Kitô với việc sống lại của chúng ta ?

998
1002-1003

Cũng như Đức Kitô đă thực sự sống lại từ cơi chết và sống măi, cũng vậy, Người sẽ làm cho tất cả chúng ta sống lại trong ngày sau hết, với một thân xác không c̣n hư nát, “Ai đă làm điều lành, th́ sẽ sống lại để được sống; ai đă làm điều dữ, th́ sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,29).

 

205.     Khi chúng ta chết, điều ǵ sẽ xảy ra cho linh hồn và thân xác chúng ta ?

992-1004
1016-1018

Khi chết, linh hồn và thân xác sẽ tách rời nhau, thân xác sẽ bị huỷ hoại, trong khi linh hồn, v́ là bất tử, sẽ chịu sự phán xét của Thiên Chúa và chờ đợi ngày được kết hợp lại với thân xác khi thân xác được biến đổi vào ngày Chúa trở lại. Việc t́m hiểu sự sống lại diễn ra như thế nào vượt quá khả năng của trí tưởng tượng và sự hiểu biết của chúng ta.

 

206.     “Chết trong Đức Kitô Giêsu” có nghĩa là ǵ ?

1005-1014
1019

Điều này có nghĩa là chết trong ân sủng của Chúa, lúc không có tội trọng. Ai tin vào Đức Kitô và theo gương Người, sẽ có thể biến đổi cái chết của ḿnh thành một hành vi vâng phục và yêu mến đối với Chúa Cha. “Đây là lời đáng tin cậy : Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người” (2 Tm 2,11).        

 

“TÔI TIN HẰNG SỐNG VẬY”

 

207.     Đời sống vĩnh cửu là ǵ ?

1020
1051

Đời sống vĩnh cửu là đời sống bắt đầu ngay sau khi chết. Đời sống này không có kết thúc. Mỗi người, khi bắt đầu bước vào đời sống vĩnh cửu, sẽ phải nhận một cuộc phán xét riêng do chính Đức Kitô, vị Thẩm Phán của kẻ sống và kẻ chết; đời sống này sẽ được đóng ấn trong cuộc phán xét chung.

 

208.     Phán xét riêng là ǵ ?

1021-1022
1051

Là cuộc phán xét thưởng phạt tức khắc mà mỗi người, ngay sau khi chết, phải lănh nhận từ Thiên Chúa trong linh hồn bất tử của ḿnh, liên quan đến đức tin và các việc làm của ḿnh. Sự phân định thưởng phạt này gồm có việc được vào hưởng hạnh phúc thiên đàng, tức khắc hoặc sau một cuộc thanh luyện thích hợp, hay là phải chịu phạt muôn đời trong hỏa ngục.

 

209.  “Thiên đàng” là ǵ ?

1023-1026
1053

“Thiên đàng” là t́nh trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được qui tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các thánh. Như vậy các ngài tạo thành Hội thánh thiên quốc, nơi các ngài được chiêm ngắm Thiên Chúa “mặt giáp mặt” ( 1 Cr 13,12); các ngài sống trong sự hiệp thông t́nh yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta.

 

Sự sống thật và theo bản chất cốt tại điều này : Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần, đổ tràn hồng ân thiên quốc trên tất cả không trừ ai. Nhờ ḷng nhân hậu của Ngài, cả chúng ta nữa, chúng ta đă lănh nhận lời hứa không thể mai một là được sống đời đời” (thánh Cyrillô thành Giêrusalem).   

 

210.  Luyện ngục là ǵ ?

1030-1031
1054

Luyện ngục là t́nh trạng của những người chết trong t́nh thân với Thiên Chúa, nhưng, dù đă được đảm bảo ơn cứu độ vĩnh cửu, họ c̣n cần thanh luyện trước khi được hưởng hạnh phúc thiên đàng.

 

211.  Bằng cách nào chúng ta có thể giúp đỡ các linh hồn đang được thanh luyện nơi luyện ngục ?

1032

Nhờ sự “các thánh thông công” các tín hữu c̣n lữ hành trên trần gian, có thể giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục, bằng cách dâng lời cầu khẩn, đặc biệt là Thánh lễ, và cả những việc bố thí,  ân xá và những việc hăm ḿnh để cầu cho họ.

 

212.     Hoả ngục hệ tại điều ǵ ?

1033-1035
1056-1057

Hoả ngục hệ tại án phạt đời đời dành cho những ai, do sự lựa chọn tự do của ḿnh, chết trong t́nh trạng có tội trọng. H́nh phạt chính yếu của hỏa ngục là xa cách đời đời khỏi Thiên Chúa. Chỉ nơi Ngài con người mới có sự sống và hạnh phúc; con người được tạo dựng là để hưởng những điều ấy và họ luôn khao khát những điều ấy. Đức Kitô diễn tả thực tại hoả ngục bằng những lời này : “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” (Mt 25,41).

 

213.     Thiên Chúa là Đấng nhân hậu vô biên, làm sao Ngài lại để có hỏa ngục ?

1036-1037

Thiên Chúa muốn “cho mọi người ăn năn hối cải” (2 Pr 3,9), nhưng v́ Ngài đă tạo dựng con người có tự do và có trách nhiệm, nên Ngài tôn trọng các quyết định của họ. V́ thế, nếu cho đến lúc chết, con người vẫn c̣n nằm trong tội trọng, từ chối t́nh yêu nhân từ của Thiên Chúa, th́ chính họ, với sự tự lập hoàn toàn, tự ư loại ḿnh ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa.

 

214.     Phán xét cuối cùng hệ tại điều ǵ  ?

1038-1041
1058-1059

Sự phán xét cuối cùng (phán xét chung) hệ tại sự phán quyết về cuộc sống hạnh phúc hay án phạt đời đời, mà Chúa Giêsu, khi Người trở lại như vị Thẩm phán của kẻ sống và kẻ chết, sẽ tuyên bố cho “những người công chính cũng như kẻ có tội” (Cv 24,15), qui tụ tất cả trước mặt Người. Sau cuộc phát xét cuối cùng, thân xác sống lại sẽ tham dự vào sự thưởng phạt mà linh hồn đă lănh nhận trong cuộc phán xét riêng.

 

215.     Khi nào cuộc phán xét này sẽ xảy ra ?

1040

Cuộc phán xét này sẽ xảy ra vào ngày tận thế mà chỉ ḿnh Thiên Chúa mới biết được ngày nào giờ nào.

 

216.   “Hy vọng trời mới đất mới” nghĩa là ǵ ?

1042-1050
1060

Sau cuộc phán xét cuối cùng, chính vũ tru,ï được giải thoát khỏi nô lệ sự hư nát, sẽ được dự phần vào vinh quang của Đức Kitô với việc khai mạc “trời mới đất mới” (2 Pr 3,13). Như thế sự viên măn của Nước Thiên Chúa sẽ đạt đến đích điểm, nghĩa là ư định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn thành vĩnh viễn : “Qui tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lănh là Đức Kitô” (Ep 1,10). Khi ấy Thiên Chúa sẽ “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28), trong cuộc sống đời đời.

 “AMEN”

 

217.      Tiếng Amen, kết thúc Kinh Tin Kính, có nghĩa là ǵ ?

1061-1065

Tiếng Do Thái Amen –cũng được dùng để kết thúc quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh, cũng như một số lời cầu nguyện của Tân Ước và các lời cầu nguyện phụng vụ của Hội thánh– diễn tả lời ‘Thưa vâng” đầy tin tưởng và trọn vẹn của chúng ta đối với những ǵ chúng ta đă tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, chúng ta hoàn toàn phó ḿnh cho Đấng là AMEN tối hậu (Kh 3,14), tức là Đức Kitô.  

  

 

 

 

 


 

Trong bức tranh này, Chúa Giêsu tiến đến gần các tông đồ đang ngồi ở bàn, và từ người này sang người khác, Người cho họ rước lễ. Đây là một loại h́nh ảnh cho thấy ḷng nhiệt thành đối với Bí tích Thánh Thể của Hội thánh trong suốt ḍng lịch sử.

 

Thánh tử đạo Éméritus, vào khoảng đầu thế kỷ thứ bốn, đă nói : “Sine Dominico non possumus - chúng tôi không thể sống thiếu ngày Chúa nhật -” khi phải chịu đựng một trong những cuộc bách hại tệ hại nhất chống lại người Kitô hữu, đó là cuộc bách hại dưới trào hoàng đế Diocletianus vào năm 304 scn. Bị buộc tội đă ban phát Thánh Thể cho cộng đoàn, ngài chấp nhận không chút lưỡng lự : “Không có Thánh Thể, chúng tôi không thể sống.” Và một trong số những vị tử đạo thêm vào : “Vâng, tôi đă đến với cộng đoàn và tôi đă cử hành tiệc thánh của Chúa với anh em tôi, chỉ v́ tôi là  người Kitô hữu” (Hạnh các thánh tử đạo tại Abitina, c.11; 7,16). V́ trung thành  với Bí tích Thánh Thể, bốn mươi chín vị chứng nhân của miền bắc Phi Châu đă bị kết án tử h́nh. Chúa Giêsu của Bí tích Thánh Thể là sự sống đích thực cho Saturnin và các bạn tử đạo tại Abitina ở Phi Châu. Các ngài muốn chết hơn là không được lănh nhận lương thực Thánh Thể, bánh của đời sống vĩnh cửu.

 

Thánh Tôma Aquinô có thói quen vào giữa trưa, xuống nhà thờ và, với ḷng tin tưởng và phó thác, ngài áp trán vào Nhà Tạm để chuyện tṛ thân mật với Chúa Giêsu Thánh Thể.  Vị thần học gia vĩ đại của thời Trung Cổ được nổi danh v́ đă sáng tác các bản văn phụng vụ cho đại lễ Ḿnh Thánh Chúa (Corpus Domini) trong đó, ngài diễn tả đầy đủ sự sùng kính sâu xa Bí tích Thánh Thể.

 

Thánh thi ca tụng (Verbum supernum prodiens) là một bài tổng hợp linh đạo Bí tích Thánh Thể của Kitô giáo :

 

Trước khi nộp ḿnh chịu chết, v́ một người môn đệ của ḿnh phản bội,

(Chúa Giêsu) tự ban ḿnh cho các môn đệ làm lương thực sự sống.

Người ban cho họ dưới hai h́nh dạng, Thịt và Máu của Người;

Để qua bản thể hai h́nh dạng này, Người nuôi sống trọn loài người.

Khi sinh ra, Người tự hiến ḿnh là bạn đồng hành

Khi ngồi cùng bàn với họ, Người tự hiến như lương thực,

Khi chịu chết, Người tự hiến như phần thưởng.

 

Thánh Tôma Aquinô gọi Bí tích Thánh Thể là “chóp đỉnh và sự viên măn của cả đời sống tinh thần,” làm nổi bật ư thức đức tin của Hội thánh tin tưởng vào Bí tích Thánh Thể, vào sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta và là lương thực cần thiết cho đời sống tinh thần. Bí tích Thánh Thể tạo thành sợi chỉ đỏ, khởi đi từ Bàn Tiệc Ly, nối kết mọi thế kỷ lịch sử của Hội thánh cho đến chúng ta ngày hôm nay. Các lời truyền phép – “Này là Minh Thầy” và “Này là Máu Thầy” – được nói lên, măi măi và ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các trại tập trung, trong các nhà tù c̣n tồn tại đến ngày  nay. Chính trên chân trời Thánh Thể mà Hội thánh đặt nền tảng cho đời sống, sự hiệp thông và sứ vụ của ḿnh.

 

JOOS VAN WASSENHOVEN, Chúa Giêsu ban Ḿnh Thánh cho các Tông đồ, Pḥng trưng bày họa phẩm quốc gia vùng Marches, Urbino.

 

 

PHẦN II

CỬ HÀNH MẦU NHIỆM KITÔ GIÁO

 

 

ĐOẠN THỨ NHẤT

NHIỆM CỤC BÍ TÍCH

 

  

 

 

 

 


 

Hy tế thập giá là nguồn mạch cho nhiệm cục bí tích của Hội thánh. Trong ảnh, Đức Maria, tượng trưng cho Hội thánh, đón nhận từ tay trái ḿnh máu và nước, biểu tượng các Bí tích c?a H?i thánh, đổ ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu : “Khi đến gần Chúa  Giêsu và thấy Người đă chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức th́, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,33-34).

 

Thánh Augustinô chú giải : “Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đang khi chịu đau khổ, đă dâng hiến v́ chúng ta điều mà Người đă nhận từ chúng ta khi sinh ra, và măi măi trở nên vị Thượng tế vĩ đại. Người ra lệnh cho chúng ta dâng hy lễ mà anh em thấy, đó chính là Ḿnh và Máu Người. Thật vậy, thân xác Người, bị lưỡi đ̣ng đâm thâu qua, tuôn chảy nước và máu, với nước và máu này Người tha thứ tội lỗi chúng ta. Khi anh em nhớ lại ân sủng này, th́ ơn cứu độ lại hoạt động (v́ chính Thiên Chúa đă làm điều này nơi anh em), run rẩy và sợ sệt, anh em hăy đến gần để chia sẻ từ bàn thánh này. Hăy nhận ra trong bánh này là chính thân xác mà anh em đă treo trên thập giá, và trong chén này là chính máu chảy ra từ cạnh sườn Người. Các hy lễ xa xưa của dân Chúa, trong sự đa dạng của chúng, chỉ tiên báo hy lễ duy nhất sẽ đến. Và Đức Kitô v?a là con chiên, v́ sự vô tội của tâm hồn thanh sạch Người, v?a  là con dê, v́ xác thịt  Người giống xác thịt  của kẻ tội lỗi. Tất cả những ǵ được tiên báo bằng nhiều cách khác nhau trong các hy lễ của Cựu Ước đều hướng về hy lễ được mạc khải trong Tân Ước.  

 

Hăy nhận lấy và ăn Thân ḿnh Đức Kitô, v́ ngay lúc này anh em đă trở nên chi thể của Đức Kitô, trong Thân Thể của Đức Kitô; hăy lănh nhận và uống Máu Đức Kitô. Để không phải tách rời nhau, hăy ăn điều nối kết anh em lại; để không tự đánh giá thấp chính ḿnh, hăy uống giá chu?c của anh em. Mỗi khi anh em ăn và uống các thứ ấy, chúng biến đổi nên anh em, cũng thế, nếu như trong đời sống, anh em sống vâng phục và đạo đức, anh em biến đổi nên thân thể Đức Kitô. Thật vậy, khi gần đến cuộc khổ nạn, khi cử hành lễ Vượt qua với các môn đệ, Người cầm lấy bánh, tạ ơn mà nói : “Này là Ḿnh Thầy sẽ bị nộp v́ anh em.” Cùng một thể thức ấy, sau khi chúc lành, Người trao chén, mà nói : “Đây là Máu Thầy, máu của Giao ước mới, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”. Điều ấy, anh em đă đọc và đă nghe trong Phúc Âm, dù vậy, anh em không biết rằng Bí tích Thánh Thể  là chính Chúa Con; nhưng ngay bây giờ, với trái tim đă được thanh tẩy trong một lương tâm không t́ vết, và với thân xác được rửa sạch trong nước tinh tuyền, anh em hăy đến gần Người và anh em sẽ được chiếu sáng và sẽ không c̣n xấu hổ nữa” (Bài giảng 228B).

 

Nhà nguyện Redemptoris Mater, Tranh ghép đá của bức tường tŕnh bày mầu nhiệm Nhập Thể, Vatican.

 

218. Phụng vụ là ǵ ?

1066-1070

Phụng vụ là việc cử hành mầu nhiệm Đức Kitô, đặc biệt là cử hành Mầu nhiệm Vượt qua của Người. Trong Phụng vụ, qua trung gian việc thực thi phận vụ tư tế của Đức Giêsu Kitô, sự thánh hóa con người được biểu lộ và thực hiện qua các dấu chỉ. Thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô, nghĩa là Đầu và các chi thể, thực thi việc thờ phượng công khai dành cho Thiên Chúa.

 

219. Phụng vụ có vị trí nào trong đời sống Hội thánh ?

1071-1075

            Là hành động tuyệt đối thánh thiêng, Phụng vụ là chóp đỉnh mà mọi hoạt động của Hội thánh đều hướng tới, đồng thời là nguồn mạch phát sinh mọi năng lực của đời sống Hội thánh. Qua Phụng vụ, Đức Kitô tiếp tục công tŕnh cứu chuộc chúng ta trong Hội thánh, với Hội thánh và nhờ Hội thánh của Người.

 

220. Nhiệm cục bí tích cốt tại điều ǵ ?

1076

            Nhiệm cục bí tích cốt tại việc thông chuyển các hiệu quả ơn cứu chuộc của Đức Kitô qua việc cử hành các Bí tích của Hội thánh, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, “cho tới khi Chúa lại đến” (1 Cr 11, 26).

 

CHƯƠNG MỘT

MẦU NHIỆM VƯỢT QUA TRONG ĐỜI SỐNG CỦA HỘI THÁNH

 

 

PHỤNG VỤ – CÔNG TR̀NH CỦA THIÊN CHÚA BA NGÔI

 

221. Chúa Cha là nguồn mạch và cùng đích của Phụng vụ  theo nghĩa nào?

1077-1083
1110

Trong Phụng vụ, Chúa Cha đổ tràn các phúc lành của Ngài cho chúng ta trong Người Con nhập thể, đă chết và đă sống lại v́ chúng ta, và Ngài tuôn đổ Chúa Thánh Thần vào ḷng chúng ta. Đồng thời Hội thánh chúc tụng Chúa Cha qua việc tôn thờ, ca tụng, tạ ơn, và cầu xin Ngài ban hồng ân là Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 

222. Công tŕnh của Đức Kitô trong Phụng vụ là ǵ ?

1084-1090

Trong Phụng vụ Hội thánh, Đức Kitô biểu lộ và hoàn thành mầu nhiệm Vượt qua của Người. Khi trao ban Thánh Thần cho các Tông đồ, Người trao ban cho họ và những người kế nhiệm họ quyền thực hiện công tŕnh cứu độ qua hy tế Thánh Thể và qua các Bí tích, nơi chính Người hoạt động để trao ban ân sủng của Người cho các tín hữu trong mọi thời và trên toàn thế giới.

 

223. Chúa Thánh Thần hoạt động như thế nào trong Phụng vụ của Hội thánh ?

1091-1109
1112

Trong Phụng vụ, Chúa Thánh Thần hoạt động cách chặt chẽ nhất với Hội thánh. Chúa Thánh Thần chuẩn bị cho Hội thánh gặp gỡ Chúa của ḿnh. Ngài nhắc nhớ và làm tỏ hiện Đức Kitô  cho đức tin của cộng đoàn. Ngài làm cho hiện diện và hiện tại hóa mầu nhiệm của Đức Kitô; Ngài kết hợp Hội thánh vào đời sống và sứ vụ của Đức Kitô, làm cho hồng ân hiệp thông được sinh hoa kết quả nơi Hội thánh.  

 

MẦU NHIỆM VƯỢT QUA TRONG CÁC BÍ TÍCH CỦA HỘI THÁNH

 

224. Các Bí tích là ǵ ? Đó là những Bí tích nào ?

 1113-1131

Các Bí tích là những dấu chỉ khả giác và hữu hiệu của ân sủng, do Đức  Kitô thiết lập và ủy thác cho Hội thánh; qua các Bí tích, sự sống thần linh được trao ban cho chúng ta. Có bảy Bí tích : Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể, Thống hối, Xức dầu bệnh nhân, Truyền chức thánh và Hôn phối.

 

225.  Đâu là mối liên hệ giữa các Bí tích với Đức Kitô ?

1114-1116 

Các mầu nhiệm trong đời sống Đức Kitô là nền tảng cho những ǵ mà ngày hôm nay, qua các thừa tác viên của Hội thánh, Đức Kitô trao ban trong các Bí tích.  

 

“Điều hữu h́nh nơi Đấng cứu độ chúng ta được chuyển vào trong các Bí tích ” (thánh Lêo Cả).

 

226.  Đâu là sự liên kết giữa các Bí tích với Hội thánh ?

1117-1119

Đức Kitô đă ủy thác các Bí tích cho Hội thánh của Người. Các Bí tích này là “của Hội thánh” theo hai nghĩa : các Bí tích là “do Hội thánh,” v́ các Bí tích là hoạt động của Hội thánh, (mà Hội Thánh) là Bí tích của hoạt động Đức Kitô; các Bí tích là “cho Hội thánh,” theo nghĩa là các Bí tích xây dựng Hội thánh.

 

227.  Ấn tín Bí tích là ǵ ?

1121

Là một dấu ấn thiêng liêng được thông ban trong các Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Truyền chức. Ấn tín này là lời hứa và bảo đảm cho sự che chở của Thiên Chúa. Nhờ ấn tín, người Kitô hữu trở nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Kitô; họ được tham dự vào chức tư tế của Người theo nhiều cách. Họ là thành phần trong Hội thánh theo những bậc sống và phận vụ khác nhau; như thế, ơn gọi của họ là phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ Hội thánh. V́ ấn tín không thể xóa đi được, nên ba Bí tích trao ban ấn tín, chỉ được nhận một lần trong đời.

 

228.     Đâu là mối liên hệ giữa các Bí tích với đức tin ?

1122-1126
1133

Không những các Bí tích giả thiết phải có đức tin, mà các Bí tích c̣n nuôi dưỡng, củng cố và diễn tả đức tin, bằng lời đọc và những nghi thức. Qua việc cử hành các Bí tích, Hội thánh tuyên xưng đức tin tông truyền. Từ đó có câu thành ngữ cổ “lex orandi, lex credendi”, điều này muốn nói : Hội thánh tin như Hội thánh cầu  nguyện.

 

229.     Tại sao các tích hữu hiệu ?

1127-1128
1131

Các Bí tích hữu hiệu “ex opere operato” (do chính hành động được hoàn tất). Thực vậy, chính Đức Kitô hoạt động trong các Bí tích và thông ban ân sủng mà các Bí tích biểu lộ, không lệ thuộc vào sự thánh thiện bản thân của thừa tác viên; tuy nhiên, các hoa trái của Bí tích cũng tùy thuộc vào sự chuẩn bị nội tâm của người lănh nhận.

 

230.     Tại sao các tích cần thiết cho ơn cứu độ ?

1129

Mặc dù không phải tất cả các Bí tích đều được ban cho từng người Kitô hữu, các Bí tích đều cần thiết cho những ai tin vào Đức Kitô, bởi v́ chúng trao ban các ân sủng Bí tích, ơn tha thứ tội lỗi, ơn được làm nghĩa tử của Thiên Chúa, ơn nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Kitô và ơn được thuộc về Hội thánh. Chúa Thánh Thần chữa lành và biến đổi những ai lănh nhận các Bí tích.

 

231.     Ân sủng Bí tích là ǵ ?

1129; 1131
1134; 2003

Ân sủng Bí tích là ân sủng của Chúa Thánh Thần, được Đức Kitô trao ban, mỗi Bí tích theo một cách. Ân sủng này giúp người tín hữu trên bước đường nên thánh, và cũng giúp Hội thánh tăng trưởng trong đức ái và trong chứng từ của ḿnh.

 

232.     Đâu là mối liên hệ giữa các Bí tích với đời sống vĩnh cửu ?

1130

Trong các Bí tích, Hội thánh đă được tham dự trước vào đời sống vĩnh cửu, đang khi “chờ đợi ngày hồng phúc, ngày Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2, 13).

 

CHƯƠNG HAI

CỬ HÀNH MẦU NHIỆM VƯỢT QUA

 

CỬ HÀNH PHỤNG VỤ CỦA HỘI THÁNH
 
Ai cử hành ?

 

233.     Ai hoạt động trong Phụng vụ ?

1135-1137
1187

Chính “Đức Kitô toàn thể” (Christus Totus), gồm Đầu và Thân thể, hoạt động trong Phụng vụ. Với tư cách là vị Thượng tế, Đức Kitô cử hành cùng với Thân thể Người là Hội thánh trên trời và Hội thánh ở trần gian.

 

234.     Ai cử hành Phụng vụ trên trời ?

1138-1139

Phụng vụ trên trời được cử hành do các thiên thần, các thánh của Cựu Ước và Tân Ước, đặc biệt là Mẹ Thiên Chúa, các thánh Tông đồ, các thánh tử đạo và “một đoàn người thật đông” không tài nào đếm nổi, “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9). Khi cử hành mầu nhiệm cứu độ trong các Bí tích, chúng ta được dự phần vào Phụng vụ vĩnh cửu này.

 

235.     Hội thánh ở trần gian cử hành Phụng vụ như thế nào ?

1140-1144
1188

Hội thánh ở trần gian cử hành Phụng vụ với tư cách là dân tư tế, trong đó mỗi người hoạt động tùy theo phận vụ riêng của ḿnh, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần. Các người đă lănh nhận Bí tích Rửa tội hiến dâng chính ḿnh trong hy lễ thiêng liêng, các thừa tác viên có chức thánh cử hành theo thánh chức mà họ đă lănh nhận để phục vụ tất cả các chi thể của Hội thánh; các Giám mục và linh mục hoạt động trong cương vị Đức Kitô, là Thủ lănh. 

 

Cử hành thế nào ?

 

236.     Phụng vụ được cử hành thế nào ?

1145

Việc cử hành Phụng vụ được kết thành bằng các dấu chỉ và biểu tượng. Ư nghĩa của những dấu chỉ và biểu tượng này được bắt nguồn trong công tŕnh tạo dựng và trong các nền văn hóa nhân loại, được xác định trong các biến cố của Cựu Ước và được hoàn tất trọn vẹn trong Con Người của Đức Kitô và trong  các hoạt động của Người.

 

237.     Các dấu chỉ tích bắt nguồn từ đâu ?

1146-1152
1189

Một số dấu chỉ bắt nguồn từ công tŕnh tạo dựng (ánh sáng, nước, lửa, bánh, rượu, dầu); một số khác từ đời sống xă hội (tẩy rửa, xức dầu, bẻ bánh); một số khác từ lịch sử cứu độ thời Cựu Ước (các nghi thức Vượt qua, các hy lễ, việc đặt tay, việc thánh hiến). Những dấu chỉ này, có một số được qui định và bất biến, đă được Đức Kitô sử dụng và trở thành những phương tiện chuyển thông hoạt động cứu độ và thánh hóa của Người.

 

238.     Đâu là mối liên hệ giữa cử chỉ và lời nói trong việc cử hành Bí tích ?

1153-1155
1190

Trong việc cử hành Bí tích, cử chỉ và lời nói liên hệ với nhau chặt chẽ. Thật vậy, dù các cử chỉ tượng trưng tự chúng đă là một thứ ngôn ngữ, nhưng vẫn cần có các lời thuộc nghi thức kèm theo và làm cho chúng sinh động. Trong Phụng vụ, lời đọc và cử chỉ không thể tách rời nhau v́ chúng vừa là dấu chỉ vừa là giáo huấn; chúng cũng không thể tách rời nhau v́ chúng thực hiện điều chúng biểu thị.

 

239.     Bài ca và âm nhạc có vai tṛ trong việc cử hành Phụng vụ theo những tiêu chuẩn nào ?

1156-1158
1191

 Bài ca và âm nhạc liên kết chặt chẽ với hành vi Phụng vụ. V́ vậy, phải tôn trọng các tiêu chuẩn sau đây : các bản văn phải phù hợp với giáo lư công giáo, ưu tiên rút từ Thánh Kinh và các nguồn Phụng vụ; vẻ đẹp diễn cảm của lời cầu nguyện; phẩm chất âm nhạc; sự tham gia của cộng đoàn; sự phong phú về văn hóa của dân Thiên Chúa; đặc điểm thánh thiêng và trang trọng của việc cử hành. “Hát là cầu nguyện hai lần” (thánh Augustinô).    

 

240.     Mục đích của các ảnh tượng thánh là ǵ ?

1159-1161
1192

Ảnh tượng Đức Kitô là ảnh tượng phụng vụ cách tuyệt hảo; các ảnh tượng thánh khác tŕnh bày Đức Trinh Nữ và các thánh, biểu lộ Đức Kitô được tôn vinh nơi các ngài. Các ảnh tượng này công bố chính sứ điệp Tin Mừng mà Thánh Kinh chuyển đạt bằng lời. Các ảnh tượng thánh góp phần khơi dậy và nuôi dưỡng đức tin của các tín hữu.

 

Phụng vụ được cử hành khi nào ?

 

241.     Trung tâm của thời gian Phụng vụ là ǵ ?

1163-1167
1193

Trung tâm của thời gian Phụng vụ là ngày Chúa Nhật, nền tảng và cốt lơi của cả năm Phụng vụ. Năm Phụng vụ có chóp đỉnh là lễ Phục sinh, ngày “lễ của các ngày lễ.”

 

242.     Ư nghĩa của năm Phụng vụ  là ǵ ?

1168-1173
1194-1195

Trong năm Phụng vụ, Hội thánh cử hành toàn thể Mầu nhiệm Đức Kitô, từ lúc Người nhập thể cho đến ngày Người lại đến trong vinh quang. Trong một số ngày, Hội thánh tôn kính Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa, với một ḷng tŕu mến đặc biệt; Hội thánh cũng kính nhớ các thánh là những người đă sống cho Đức Kitô, đă chịu đau khổ với Người và hiện đang ở với Người trong vinh quang.

 

243.     Các Giờ kinh Phụng vụ là ǵ ?

1174-1178
1196

Các Giờ kinh Phụng vụ – Kinh nguyện công khai và thường xuyên của Hội thánh – là lời cầu nguyện của Đức Kitô cùng với Thân Thể Người. Nhờ Các Giờ kinh Phụng vụ, Mầu nhiệm của Đức Kitô, mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ, thánh hóa và làm thay h́nh đổi dạng thời gian của mỗi ngày. Các Giờ kinh Phụng vụ được kết thành chủ yếu từ các Thánh Vịnh, các bản văn khác của Thánh Kinh, cũng như những bài đọc của các Giáo phụ và các tôn sư linh đạo. 

 

Phụng vụ được cử hành ở đâu ?

 

244.     Hội thánh có cần những nơi chốn để cử hành Phụng vụ không ?

1197-1198

Việc thờ phượng “trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4,24) của Giao ước Mới không bị lệ thuộc vào bất cứ nơi nào đặc biệt, v́ Đức Kitô là Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa; nhờ Người, các người Kitô hữu và toàn thể Hội thánh, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, cũng trở thành đền thờ của Thiên Chúa hằng sống. Tuy nhiên, Dân Thiên Chúa, trong hoàn cảnh trần thế, cần đến những nơi chốn để cộng đoàn có thể qui tụ cử hành Phụng vụÏ.

 

245.  Các “thánh đường” là ǵ ?

 1198-1999

Đó là những ngôi nhà của Thiên Chúa, biểu tượng của Hội thánh đang sống tại đó cũng như  biểu trưng nơi cư ngụ thiên quốc. Đó là những nơi cầu nguyện trong đó Hội thánh cử hành đặc biệt là Thánh lễ và tôn thờ Đức Kitô thực sự hiện diện trong nhà tạm. 

 

246.  Những nơi nào là ưu tiên bên trong các thánh đường ?

 1182-1186

Những nơi ưu tiên là : bàn thờ, nhà tạm, nơi cất giữ Dầu thánh (myron), ngai Giám mục (cathedra) hay linh mục, giảng đài, giếng rửa tội, ṭa giải tội.

 

SỰ ĐA DẠNG CỦA PHỤNG VỤ – SỰ DUY NHẤT CỦA MẦU NHIỆM

 

247.  Tại sao mầu nhiệm duy nhất của Đức Kitô lại được cử hành theo nhiều truyền thống Phụng vụ khác nhau ?

 1200-1204
1207-1209

Mầu nhiệm của Đức Kitô phong phú khôn lường nên không một truyền thống Phụng vụ  nào diễn tả trọn vẹn được. V́ vậy, ngay từ ban đầu, sự phong phú này đă được thể hiện nơi các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau, qua những cách diễn tả đa dạng và bổ túc cho nhau cách kỳ diệu.

 

248.  Có tiêu chuẩn nào bảo đảm cho tính duy nhất trong sự đa dạng này ?

1209

Đó là sự trung thành với Truyền thống Tông đồ, nghĩa là sự hiệp thông trong đức tin và trong các Bí tích đă lănh nhận từ các Tông đồ; sự hiệp thông này được biểu lộ và bảo đảm bằng sự liên tục kế nhiệm tông đồ. Hội thánh là công giáo : do đó, Hội thánh có thể hội nhập tất cả những sự phong phú đích thực của các nền văn hóa khác nhau vào sự duy nhất của ḿnh.

 

249.  Trong Phụng vụ, có phải tất cả đều bất biến không ?

1205-1206

Trong Phụng vụ, nhất là trong Phụng vụ các Bí tích, có những yếu tố bất biến v́ là thể chế thiên định, đuợc Hội thánh trung thành ǵn giữ. Ngoài ra, cũng có những yếu tố có thể thay đổi mà Hội thánh có quyền và đôi khi có bổn phận thích nghi với các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau.

 

 

ĐOẠN THỨ HAI

BẢY BÍ TÍCH CỦA HỘI THÁNH

 

Bảy Bí tích của Hội thánh là :

  


 

Rửa tội,

Thêm sức

Thánh Thể

Thống hối

Xức dầu bệnh nhân

Truyền chức

Hôn phối

 

Các Bí tích của Hội thánh là những hoa trái của hy tế cứu độ của Chúa Giêsu trên thập giá. Bức tranh ba mảng tŕnh bày một nhà thờ nơi cử hành bảy Bí tích. Ở giữa, cây thánh giá giương cao một cách vượt trội. Dưới chân thánh giá có Đức Maria, kiệt lực, được thánh Gioan nâng đỡ, cũng như các bà đạo đức. Hậu cảnh, một linh mục đang dâng Thánh lễ, nâng cao Bánh thánh sau truyền phép, cho thấy rằng hy tế thập giá được hiện thực trong việc cử hành Thánh lễ dưới hai h́nh bánh rượu. Bên trái cho thấy nhà nguyện bên cạnh, các Bí tích Rửa tội, Thêm sức được Giám mục trao ban và cả Bí tích Thống hối. Bên phải, các Bí tích Truyền chức, Hôn phối và Xức dầu bệnh nhân được trao ban.

 

ROGER VAN DER WEYDEN, Tranh ba mảng về bảy Bí tích, Bảo tàng Koninklijk voor Schone Kunsten, Anvers.  

 

250.  Các Bí tích của Hội thánh được phân loại thế nào ?

1210-1211

Người ta phân loại : các Bí tích khai tâm Kitô giáo (Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể), các Bí tích chữa lành (Thống hối và Xức dầu bệnh nhân), các Bí tích phục vụ cho sự hiệp thông và sứ vụ (Truyền chức thánh và Hôn phối). Bảy Bí tích liên quan đến những thời điểm quan trọng trong đời sống Kitô hữu. Tất cả các Bí tích đều hướng về Bí tích Thánh Thể “như mục đích đặc thù của ḿnh” (thánh Tôma Aquinô).

 

 

CHƯƠNG MỘT

CÁC BÍ TÍCH KHAI TÂM KITÔ GIÁO

 

251. Việc khai tâm Kitô giáo được thực hiện thế nào ?

1212
1275

Việc khai tâm Kitô giáo được thực hiện qua ba Bí tích đặt nền tảng cho đời sống Kitô hữu. Các tín hữu được tái sinh nhờ Bí tích Rửa tội, được củng cố nhờ Bí tích Thêm sức, và được nuôi dưỡng nhờ Bí tích Thánh Thể.

 

BÍ TÍCH RỬA TỘI

 

252. Các tên gọi của Bí tích đầu tiên trong việc khai tâm Kitô giáo là ǵ ?

1213-1216
1276-1277

Đầu tiên, người ta gọi Bí tích này là Rửa tội theo nghi thức chính yếu của việc cử hành. Rửa tội muốn nói việc “d́m xuống” nước. Người được Rửa tội được d́m vào trong sự chết của Đức Kitô và sống lại với Người như  một “thụ tạo” mới (2 Cr 5,17). Người ta c̣n gọi Bí tích này là “tắm tái sinh và đổi mới trong Chúa Thánh Thần” (Tt 3,5), hay là “ơn soi sáng” v́ người được Rửa tội trở thành “con cái sự sáng” (Ep 5, 8).

 

253. Bí tích Rửa tội được diễn tả bằng những h́nh ảnh tượng trưng nào trong Cựu Ước ?

1217-1222

Trong Cựu Ước, người ta gặp nhiều h́nh ảnh tượng trưng khác nhau về Bí tích Rửa tội : nước, được coi như nguồn gốc của sự sống và sự chết; tàu Nôe cứu thoát con người nhờ nước; cuộc vượt qua Biển Đỏ giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập; việc băng qua sông Giođan tiến vào đất hứa, là h́nh ảnh của sự sống đời đời.

 

254.     Ai đă kiện toàn những h́nh ảnh tượng trựng đó ?

1223-1224

Những h́nh ảnh tượng trưng trong Cựu Ước được hoàn thành trong Đức Giêsu Kitô, Đấng ngay lúc khởi đầu đời sống công khai, đă để cho Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho ḿnh tại sông Giođan. Trên thập giá, từ cạnh sườn của Người bị đâm thâu, máu và nước đă tuôn trào, là dấu chỉ của Bí tích Rửa tội và Thánh thể. Sau khi Phục sinh, Người đă ủy thác cho các Tông đồ sứ vụ sau đây : “Anh em hăy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19-20).

 

255.     Hội thánh  ban Bí tích Rửa tội cho những ai và từ bao giờ ?

1226-1228

Từ ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Hội thánh ban Bí tích Rửa tội cho những ai tin vào Đức Giêsu Kitô.

 

256.     Nghi thức chính yếu của Bí tích Rửa tội là ǵ ?

1229-1245
1278

Nghi thức chính yếu của Bí tích này gồm việc d́m ứng viên xuống nước hay đổ nước trên đầu họ trong khi kêu cầu : nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.  

 

257.     Ai có thể lănh nhận Bí tích Rửa tội ?

1246-1252

Mọi người chưa lănh nhận đều có thể lănh nhận Bí tích Rửa tội.

 

258.     Tạo sao Hội thánh Rửa tội cho các em bé ?

1250

Bởi v́  các em bé được sinh ra trong tội nguyên tổ, nên cần được giải thoát khỏi quyền lực Ác thần và đưa dẫn vào Vương quốc của sự tự do của con cái Thiên Chúa.

 

259.     Hội thánh đ̣i hỏi ǵ nơi người sắp lănh Bí tích Rửa tội ?

1253-1255

Hội thánh đ̣i hỏi người sắp nhận Bí tích Rửa tội phải tuyên xưng đức tin; trong trường hợp là một người trưởng thành th́ việc tuyên xưng này phải do chính bản thân họ, nhưng nếu là một em bé, th́ việc tuyên xưng do cha mẹ và Hội thánh. Cha mẹ đỡ đầu và cả cộng đoàn giáo hội đều có trách nhiệm phần nào trong việc chuẩn bị Bí tích Rửa tội (cho người dự ṭng) cũng như trong việc phát triển đức tin và ân sủng của Bí tích Rửa tội .  

 

260.     Ai có thể ban Bí tích Rửa tội ?

1256
1284

Thừa tác viên thông thường của Bí tích Rửa tội là các Giám mục và linh mục; trong Giáo hội Latinh c̣n có cả các phó tế. Trong trường hợp cần thiết, mọi người đều có thể ban Bí tích Rửa tội, miễn là họ có ư làm điều Hội thánh làm. Người ban Bí tích Rửa tội đổ nước trên đầu ứng viên và đọc công thức Ba Ngôi khi Rửa tội : “Tôi Rửa tội cho […] nhân danh Cha và Con và  Thánh Thần.”

 

261.     Bí tích Rửa tội có cần thiết cho ơn cứu độ không ?

1257

Bí tích Rửa tội cần thiết cho ơn cứu độ đối với những người đă được nghe rao giảng Tin Mừng và những người có khả năng xin lănh nhận Bí tích này.

 

262.     Người không lănh Bí tích Rửa tội có thể được cứu rỗi không ?

1258-1261
1281-1283

V́ Đức Kitô đă chết để cứu độ tất cả mọi người, nên những người sau đây có thể được cứu độ dù không lănh nhận Bí tích Rửa tội : những ai chết v́ đức tin (Rửa tội bằng máu), những người dự ṭng và cả những người, dưới tác động của ân sủng, dù không biết Đức Kitô cũng như Hội thánh của Người, nhưng đă thành tâm t́m kiếm Thiên Chúa và cố gắng chu toàn thánh ư Người (Rửa tội bằng ḷng ước ao). Về phần các trẻ em chết mà không được Rửa tội, Hội thánh trong Phụng vụ phó thác các em cho ḷng nhân từ của Thiên Chúa.

 

263.     Bí tích Rửa tội mang lại những hiệu quả nào ?

1262-1274
1279-1280

Bí tích Rửa tội tha thứ nguyên tội, mọi tội cá nhân và các h́nh phạt do tội. Bí tích Rửa tội cho tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ ơn thánh hóa, nhờ ơn công chính hóa giúp tháp nhập vào Đức Kitô và Hội thánh Người. Bí tích này cho tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và tạo nền tảng cho sự hiệp thông với tất cả các người Kitô hữu. Bí tích này trao ban các nhân đức đối thần và các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Người lănh nhận Bí tích Rửa tội thuộc về Đức Kitô luôn măi : họ được đóng ấn không thể xóa được của Đức Kitô (ấn tín).

 

264.     Đâu là ư nghĩa của “tên thánh” khi lănh Bí tích Rửa tội ?

2156-2159
2167

Mọi tên gọi đều là quan trọng v́ Thiên Chúa biết tên gọi của từng người, nghĩa là biết tính cách độc đáo của mỗi người. Khi lănh nhận Bí tích Rửa tội, người Kitô hữu nhận một tên gọi đặc biệt trong Hội Thánh, ưu tiên nên chọn tên của một vị thánh, vị này là gương mẫu thánh thiện cho người nhận tên, và ngài sẽ chuyển cầu cho họ nơi Thiên Chúa.

 

BÍ TÍCH THÊM SỨC

 

265.     Bí tích  Thêm sức có vị trí nào trong Nhiệm cục Cứu độ ?

1285-1288
1315

Trong Giao ước cũ, các tiên tri đă loan báo việc tuôn đổ Thánh Thần của Chúa trên Đấng Mêsia đang được mong đợi, và trên toàn dân của Đấng Mêsia. Trọn đời sống và sứ vụ của Đức Kitô diễn ra trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Thánh Thần. Các Tông đồ nhận lănh Chúa Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ tuần và loan báo “những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2, 11). Qua việc đặt tay, các ngài trao ban cho các người mới lănh nhận Bí tích Rửa tội hồng ân của chính Chúa Thánh Thần. Qua bao thế kỷ, Hội thánh liên tục sống nhờ Chúa Thánh Thần và thông ban Chúa Thánh Thần cho con cái ḿnh.

 

266.     Tại sao Bí tích này được gọi là Bí tích Dầu thánh hay Thêm sức ?

1289

Người ta gọi Bí tích này là Bí tích Dầu thánh (trong các Giáo hội đông phương : Chrismation là việc xức bằng dầu myron, nghĩa là Dầu thánh), bởi v́ nghi thức chính yếu của Bí tích này là việc xức dầu. Người ta gọi Bí tích này là Bí tích Thêm Sức, v́ Bí tích này kiên cường và củng cố ân sủng của Bí tích Rửa tội.

 

267.     Nghi thức chính yếu của Bí tích Thêm sức là ǵ ?

1290-1301
1318
1320-1321

Nghi thức chính yếu của Bí tích Thêm sức là việc xức Dầu thánh (dầu pha hương liệu đă được Giám mục thánh hiến), kèm theo việc đặt tay của thừa tác viên,  ngài sẽ đọc các lời thuộc Bí tích dành riêng cho nghi thức. Ở Phương Tây việc xức dầu được ghi trên trán của những người đă được Rửa tội, kèm theo lời này :  “Hăy lănh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Trong các Giáo hội Đông Phương theo nghi thức Byzantin, việc xức dầu c̣n ghi trên nhiều phần thân thể, với công thức : “Tôi ghi dấu cho anh bằng hồng ân của Chúa Thánh Thần.”

 

268.     Bí tích Thêm sức có những hiệu quả nào ?

1302-1305
1316-1317

Hiệu quả của Bí tích Thêm sức là việc đổ tràn Chúa Thánh Thần cách đặc biệt, như trong ngày lễ Ngũ Tuần. Việc đổ tràn này ghi một ấn tín không thể tẩy xoá trong linh hồn người lănh nhận, và gia tăng ân sủng của Bí tích Rửa tội. Việc tuôn tràn Thánh Thần giúp chúng ta tiến sâu hơn vào ơn làm con cái Thiên Chúa, kết hợp chúng ta chặt chẽ hơn với Đức Kitô và với Hội thánh của Người. Bí tích này củng cố trong tâm hồn chúng ta các hồng ân của Chúa Thánh Thần và trao ban cho chúng ta một sức mạnh đặc biệt để làm chứng cho đức tin Kitô giáo.

 

269.  Ai có thể lănh nhận Bí tích Thêm sức ?

1306-1311
1319

Tất cả những ai đă nhận Bí tích Rửa tội đều có thể và phải nhận Bí tích Thêm sức và chỉ một lần duy nhất. Để lănh nhận cho có hiệu quả, người đă được Rửa tội phải ở trong t́nh trạng ân sủng.

 

270.  Ai là thừa tác viên của Bí tích Thêm sức ?

1312-1314

Thừa tác viên nguyên thủy của Bí tích Thêm sức là Giám mục. Đây là cách làm nổi bật sự liên kết giữa người được Thêm sức với Hội thánh trong cơ cấu tông truyền. Khi linh mục trao ban Bí tích này – điều này thông thường ở Đông Phương và trong những hoàn cảnh đặc biệt ở Tây Phương – mối dây liên kết với Giám mục và với Hội thánh được biểu lộ qua linh mục, là cộng sự viên của Giám mục, và qua Dầu thánh được chính Giám mục thánh hiến.  

 

BÍ TÍCH THÁNH THỂ

 

271.  Bí tích Thánh Thể là ǵ ?

1322-1323
1409

Bí tích Thánh Thể là chính hy tế Ḿnh và Máu của Chúa Giêsu, mà Người đă thiết lập để lưu tồn hy tế thập giá của Người qua bao thế kỷ cho đến khi Người lại đến. Như thế, Người ủy thác cho Hội thánh việc tưởng nhớ cái Chết và cuộc Phục sinh của Người. Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ hợp nhất, dây bác ái, bữa tiệc vượt qua, nơi chúng ta lănh nhận Đức Kitô, linh hồn được tràn đầy ân sủng và được bảo đảm cho đời sống vĩnh cửu.   

 

272. Chúa Giêsu đă thiết lập Bí tích Thánh thể khi nào ?

1323
1337-1340

Người đă thiết lập Bí tích Thánh Thể vào ngày Thứ Năm tuần thánh, “trong đêm bị trao nộp” (1 Cr 11, 23), khi Người ăn bữa tiệc cuối cùng với các Tông đồ của Người. 

 

273. Người đă thiết lập Bí tích Thánh Thể như thế nào ?

1337-1340
1365, 1406

Sau khi qui tụ các Tông đồ trong nhà Tiệc ly, Chúa Giêsu cầm lấy bánh trong tay, bẻ ra và trao cho các ông mà nói : “Anh em hăy nhận lấy mà ăn : này là Ḿnh Thầy bị nộp v́ anh em”. Rồi Người cầm trong tay chén đầy ruợu và nói với họ : “Anh em hăy nhận lấy mà uống: này là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu, đổ ra cho anh em và nhiều người được tha tội. Anh em hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

 

274. Bí tích Thánh Thể có ư nghĩa ǵ  trong đời sống của Hội thánh ?

1324-1327
1407

 Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của toàn bộ đời sống Kitô giáo. Thánh Thể là tột đỉnh hoạt động thánh hóa của Thiên Chúa đối với chúng ta và là tột đỉnh của hoạt động phượng tự chúng ta dâng lên Ngài. Bí tích Thánh Thể chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội thánh, đó chính là Đức Kitô, Đấng là Chiên Vượt qua của chúng ta. Việc hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa và sự hợp nhất của dân Thiên Chúa được diễn tả và thực hiện nhờ Bí tích Thánh Thể. Qua việc cử hành Thánh lễ, chúng ta được kết hợp với Phụng vụ trên trời và tham dự trước vào đời sống vĩnh cửu.

 

275. Bí tích này c̣n được gọi bằng những tên gọi nào ?

1328-1332

Nguồn phong phú vô tận của Bí tích này được diễn tả qua nhiều tên gọi khác nhau, gợi lên những khía cạnh đặc biệt. Những tên gọi thông dụng nhất là: Thánh Thể, Thánh lễ, Bữa tiệc của Chúa, lễ Bẻ Bánh, Cử hành Thánh Thể, Tưởng nhớ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa, Hy lễ thánh, Phụng vụ thánh và Thần linh, Mầu nhiệm thánh, Bí tích thánh nơi bàn thờ, Hiệp lễ.

 

276.  Đâu là vị trí của Bí tích Thánh Thể trong Nhiệm cục cứu độ ?

1333-1344

Trong Giao ước cũ, Bí tích Thánh Thể đặc biệt được tượng trưng bằng bữa ăn Vượt qua, được Người Hi-pri cử hành hàng năm với bánh không men, để ghi nhớ ngày ra đi vội vă và giải phóng khỏi đất Ai Cập. Chúa Giêsu đă báo trước về Bí tích này trong giáo huấn của Người, và Người đă thiết lập Bí tích này khi cử hành bữa tiệc ly với các Tông đồ, trong khung cảnh bữa tiệc Vượt qua. Trung thành với lệnh truyền của Chúa : “Hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1 Cr 11, 24), Hội thánh luôn cử hành Bí tích Thánh Thể, nhất là vào ngày chúa nhật, ngày Phục sinh của Chúa Giêsu.

 

277.  Bí tích Thánh Thể được cử hành thế nào ?

1345-1355
1408

Bí tích Thánh Thể được cử hành gồm hai phần chính, hợp thành một hành vi phụng tự duy nhất : Phụng vụ Lời Chúa gồm việc công bố và lắng nghe Lời Chúa, và Phụng vụ Thánh Thể gồm việc tiến dâng bánh rượu, kinh nguyện thánh thể (hay anaphore) và hiệp lễ.

 

278.  Ai là thừa tác viên của Bí tích Thánh Thể ?

1348
1411

Thừa tác viên Bí tích Thánh Thể là vị tư tế (Giám mục hay linh mục) đă được truyền chức thành sự; vị này cử hành trong cương vị (in Persona) Đức Kitô – Thủ lănh và nhân danh Hội thánh.

 

279.  Các chất liệu chính yếu và cần thiết của Bí tích Thánh Thể là ǵ ?

1412

Các chất liệu đó là bánh ḿ và rượu nho.

 

280.  Tại sao nói Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm hy tế của Đức Kitô ?

1362-1367

Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm theo nghĩa làm cho hiện diện và hiện tại hoá hy tế thập giá mà Đức Kitô đă dâng lên Chúa Cha, một lần thay cho tất cả, v́ nhân loại. Đặc tính hy tế của Bí tích Thánh Thể được biểu lộ trong chính những lời thiết lập : “Đây là Ḿnh Thầy, bị nộp v́ anh em” và “Chén này là Giao ước mới trong Máu Thầy, sẽ đổ ra v́ anh em” (Lc 22,19-20). Hy tế thập giá và hy tế Thánh Thể là một hy tế duy nhất. Hiến vật và người dâng là một, chỉ khác biệt về cách tiến dâng : cách đổ máu trên thập giá, cách không đổ máu trong Bí tích Thánh Thể.

 

281.  Hội thánh tham dự vào hy tế Thánh Thể theo cách nào ?

1368-1372
1414

Trong Bí tích Thánh Thể, hy tế của Đức Kitô cũng trở thành hy tế của các chi thể trong Thân Thể Người. Đời sống của các tín hữu, lời ca ngợi, hoạt động, cầu nguyện, lao động của họ được kết hợp với Đức Kitô. V́ là hy tế, Bí tích Thánh Thể cũng được dâng lên thay cho tất cả các tín hữu, người c̣n sống cũng như kẻ đă qua đời, như của lễ đền tội cho tất cả mọi người, để đón nhận được từ Thiên Chúa những ích lợi thiêng liêng và trần thế. Hơn nữa, Hội thánh trên trời cũng hiện diện trong lễ dâng của Đức Kitô.

 

282.  Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể như thế nào ?

1373-1375
1413

Đức Giêsu Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể một cách độc nhất vô nhị và không thể so sánh được. Thật vậy, Người hiện diện cách đích thực, thực sự và theo bản thể: với Ḿnh và Máu Người, với linh hồn và thần tính của Người. Trong Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô trọn vẹn, vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện diện theo cách Bí tích, nghĩa là dưới h́nh bánh và h́nh rượu.

 

283.  Biến đổi bản thể nghĩa là ǵ ?

1376-1377
1413

Biến đổi bản thể nghĩa là sự biến đổi trọn vẹn bản thể bánh thành bản thể Ḿnh Thánh Đức Kitô, và biến đổi trọn vẹn bản thể rượu thành bản thể Máu Thánh Người. Sự biến đổi này được thực hiện trong Kinh Nguyện Thánh Thể, nhờ tính hữu hiệu của lời Đức Kitô và tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, những đặc tính khả giác bên ngoài của bánh và rượu, nghĩa là các “h́nh bánh rượu,” vẫn không thay đổi.

 

284.  Việc bẻ bánh có phân chia Đức Kitô không ?

1377

Việc bẻ bánh không phân chia Đức Kitô. Người hiện diện trọn vẹn và toàn phần trong mỗi h́nh dạng Thánh Thể, và trong mỗi phần nhỏ của cả hai h́nh dạng đó.

 

285.  Sự hiện diện của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể kéo dài bao lâu ?

1377

Sự hiện diện của Đức Kitô kéo dài bao lâu h́nh bánh ruợu đă truyền phép c̣n tồn tại.

 

286.  Phải tôn thờ Bí tích Thánh Thể cách nào ?

1378-1381
1418

Đó là sự tôn thờ “latria”, nghĩa là sự tôn thờ chỉ dành riêng cho một ḿnh Thiên Chúa, dù trong Thánh lễ, dù ngoài Thánh lễ. Hội thánh bảo quản bánh rượu đă truyền phép một cách cẩn thận tối đa; Hội thánh mang Thánh Thể cho các bệnh nhân, cho những người không có khả năng tham dự Thánh lễ. Hội thánh trưng Thánh Thể cho các tín hữu tôn thờ cách long trọng ; mang Thánh Thể đi rước kiệu và mời gọi mọi người thường xuyên kính viếng và thờ lạy Bí tích cực thánh này, được ǵn giữ trong Nhà tạm.

 

287.  Tại sao Bí tích Thánh Thể là tiệc Vượt qua ?

1382-1384
1391-1396

Bí tích Thánh Thể là tiệc Vượt qua v́ khi làm cho cuộc Vượt qua của Người hiện diện một cách Bí tích, Đức Kitô ban cho chúng ta Ḿnh và Máu Người làm của ăn thức uống. Người kết hợp chúng ta với Người và với nhau trong hy tế của Người.

 

288.  Bàn thờ có ư nghĩa ǵ ?

1383
1410

Bàn thờ là biểu tượng của chính Đức Kitô, Đấng đang hiện diện như của lễ hiến tế (bàn thờ - hy tế thập giá) và như lương thực thần thiêng được ban tặng cho chúng ta (bàn thờ – bàn tiệc Thánh Thể).

 

289.  Hội thánh đ̣i buộc chúng ta phải tham dự Thánh lễ khi nào ?

1389
1417

Hội thánh đ̣i buộc các tín hữu phải tham dự Thánh lễ vào các ngày Chúa nhật và các lễ buộc. Hội thánh cũng khuyên chúng ta tham dự Thánh lễ vào các ngày khác nữa.

 

290.  Khi nào chúng ta phải rước lễ ?